CPTATVNT: Lời nói đầu

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

 

Nhấp vào đây để xem Chương Một: Lược Sử Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Lời nói đầu

 

Kể từ thập niên 1960 cho đến nay, một phong trào phát sinh từ trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo được gọi chung là "Phong Trào Ân Tứ" đã trở nên lớn mạnh và xâm nhập sâu vào trong Hội Thánh của Chúa ở khắp nơi. Phong Trào Ân Tứ (Charismatic Movement - 1906) thoát thai từ Phong Trào Ngũ Tuần (Pentecostal Movement - 1901). Theo thống kê vào năm 2003, số người thuộc hai phong trào này lên đến khoảng 700 triệu, nghĩa là chiếm khoảng 33% tổng số những người xưng nhận có đức tin trong Đấng Christ (Christians – bao gồm Chính Thống Giáo, Công Giáo, Anh Giáo, và Tin Lành Giáo) trên toàn thế giới. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần mang lại nhiều tranh luận cũng như phân rẽ trong Hội Thánh. Nhiều giáo phái lớn trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo đã thành lập những ban nghiên cứu. Ngay cả người ngoại đạo cũng thành lập các ban nghiên cứu về hiệu ứng tâm lý trong sự kiện chữa bệnh và nói tiếng lạ của các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Mục sư làm áp lực bà Nguyễn Thị Hiệp

Suốt mấy tuần nay, từ khi video clip lời làm chứng "Thoát khỏi tà linh" của bà Nguyễn Thị Hiệp được đưa lên Internet, đã có nhiều mục sư làm áp lực với bà Hiệp và gia đình của bà,  buộc phải lấy lời làm chứng xuống khỏi Internet.

Tôi là Huỳnh Christian Timothy, người phỏng vấn bà Nguyễn Thị Hiệp, người thực hiện video clip "Thoát khỏi tà linh," và là người phổ biến lời làm chứng này trên Internet; xin nhắn lời với quý mục sư đang làm áp lực bà Nguyễn Thị Hiệp: yêu cầu quý vị chấm dứt ngay hành động vô lý này, nếu không, tôi buộc phải nêu danh tánh của quý vị trên diễn đàn này để quý vị trả lời trước Hội Thánh của Chúa những điều sau đây:

Tiềm năng của hồn

Chúng tôi vừa nhận được qua email của một độc giả bài "Tiềm năng của hồn" do Người Chăn Nghê Thác Thanh viết. Xin đăng lại nơi đây để con dân Chúa tham khảo. Những điều trình bày trong bài viết đầy ơn này giúp cho con dân Chúa hiểu rõ về các ma thuật, tâm lý học, sự tu luyện của các tôn giáo thế tục, và những điều sai lạc trong các phong trào Ân Tứ/Ngũ Tuần.

Admin.

Video: Thoát khỏi tà linh

Thoát Khỏi Tà Linh Bà Nguyễn Thị Hiệp 27/07/2007

Xin dùng Internet Explorer

Truy diệt dấu ấn của Satan trên đất Việt

Kính lạy Ba Ngôi Đức Chúa Trời, xin mở mắt thuộc linh của chúng con để chúng con nhìn thấy rõ những đồn lũy của sự tối tăm trên đất nước, dân tộc Việt Nam chúng con, trong Hội Thánh và trong mỗi tấm lòng của chúng con, để chúng con nhân Danh Thánh của Đức Chúa Jesus Christ mà hủy phá chúng nó, đem lại tự do thật cho chúng con, sự phấn hưng cho Hội Thánh, sự cứu rỗi cho toàn thể dân tộc Việt Nam, và phước hạnh cho quê hương, đất nước của chúng con! A-men!

 

Gieo trồng hạt giống Tin Lành trên đất nước Việt Nam là dự phần vào chiến trận thuộc linh tại đất nước này. Trong chiến trận này, chúng ta biết kẻ thù của chúng ta là Satan. Chúng ta cũng cần nhận diện các hoạt động dàn dựng của nó để có các chiến lược thích ứng.

Truyền thuyết "Con rồng cháu tiên"

Thánh Kinh dạy rằng Đức Chúa Trời đã bày tỏ hết mọi chuyện có thể biết được về Ngài cho nhân loại, trong đó có dân tộc Việt Nam (Rô-ma 1:19). Ngài đã đặt để trong lương tâm, tình cảm của mỗi dân tộc hình ảnh của Ngài, là Đấng Tạo Hóa, là chủ tể của muôn loài. Do đó, mặc dù không có ai dạy cho biết, người Việt Nam thời xưa cũng có những câu ca dao sau đây để bày tỏ sự hiểu biết của mình về Đức Chúa Trời hay “Ông Trời”:

 

Lạy Trời mưa xuống,

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cày....

 

hay là:

 

Lưới Trời lồng lộng bao la,

Thưa mà chẳng lọt, chẳng qua mảy nào.

 

hay là:

 

Không nên dối gạt mọi người,

Dối người có thể, dối Trời được đâu.

 

Chung Thời Học (2): Ba-by-lôn Lớn

Dẫn nhập

Thành phố Ba-by-lôn, được đề cập trong Thánh Kinh, nằm trên một vùng đất cách thủ đô Baghdad của Iraq khoảng 90km về phía Nam. Trong lịch sử nhân loại, nó là thành phố quan trọng thứ nhì, chỉ đứng sau Giê-ru-sa-lem. Theo Thánh Kinh, Ba-by-lôn là thủ phủ của đế quốc đầu tiên của loài người (Sáng Thế Ký 10:10). Đó cũng là nơi có tháp Ba-bên, là công trình đầu tiên của loài người, thể hiện tinh thần hiệp một chống nghịch Đức Chúa Trời. Bởi biến cố đó mà Đức Chúa Trời đã làm lộn xộn ngôn ngữ của loài người và phân tán họ đi khắp đất (Sáng Thế Ký 11). Trong hành trình phân tán đó, loài người đem tư tưởng chống nghịch Đức Chúa Trời, thờ lạy thần tượng gieo rắc khắp nơi. Chúng ta gọi sự chống nghịch Đức Chúa Trời đó là tinh thần Ba-by-lôn. Tinh thần Ba-by-lôn thể hiện trong văn hoá, phong tục, và tôn giáo của loài người. Thành phố Ba-by-lôn vì vậy được xem là hang ổ và là cái nôi của sự chống nghịch Đức Chúa Trời, thờ lạy hình tượng. Sau này, nó trở thành thủ phủ của đế quốc Ba-by-lôn, vào thế kỷ thứ 6 TCN, đã đánh chiếm, hủy diệt Giê-ru-sa-lem và bắt dân Y-sơ-ra-ên lưu đày trong 70 năm. Sự việc Giê-ru-sa-lem thất thủ vào tay đế quốc Ba-by-lôn và dân sự bị lưu đày qua Ba-by-lôn được các đầy tớ Chúa là Ê-sai và Giê-rê-mi tiên tri từ trước.

Phê bình thuyết Vô Ngã trong triết Phật

Dẫn nhập:

Cột trụ của Phật Giáo là thuyết VÔ NGÃ. Thuyết Vô Ngã do chính Phật Thích Ca, giáo chủ của Phật Giáo giảng dạy. Trong kinh Pháp Cú 20:5-7 ghi lại lời dạy của Phật Thích Ca như sau:

"Chư Hành vô thường (Mọi sự vật bị giới hạn đều là vô thường - luôn biến đổi) "Chư Hành là khổ (Mọi sự vật bị giới hạn đều là khổ - đời sống không có sự vui thỏa) "Chư Pháp vô ngã (Mọi pháp là vô ngã - "pháp" bao gồm sắc pháp tức vật lý và tâm pháp tức tâm lý)

Chữ "pháp" là một thuật ngữ độc đáo trong Phật học, nó bao gồm tất cả những gì thuộc về thế giới vật lý lẫn những gì thuộc về thế giới tâm lý, nó bao gồm cả Niết Bàn. Theo giáo lý Nguyên Thủy (Theravàda) không có Ngã trong các pháp (mọi sự vật) cũng như không có Ngã trong con người. Trong Trung Bộ Kinh, Phật Thích Ca dạy rằng:

"Hỡi các Tỳ Kheo, khi mà Ngã hay bất cứ cái gì thuộc về Ngã không có, thì quan điểm tư duy này: Vũ trụ là linh hồn, ta sẽ là linh hồn sau khi chết, sẽ trường cửu, tồn tại, vĩnh viễn bất biến, và ta sẽ hiện hữu như thế cho đến vô tận thời gian - quan điểm ấy có phải là hoàn toàn điên rồ chăng?"

Từ thuyết Vô Ngã, Phật Thích Ca khai mở một chủ thuyết, về sau chủ thuyết này trở thành giáo lý cột trụ của một tôn giáo lớn gọi là Phật Giáo. Hơn 2500 năm đã trôi qua kể từ ngày Phật Thích Ca rao giảng thuyết Vô Ngã, hàng tỉ người trên thế giới đã tin vào thuyết này và cố gắng "tu tập" để có thể chiêm nghiệm được cái lý lẽ của thuyết Vô Ngã. Danh từ "Phật" dùng để gọi một người đã quán triệt Vô Ngã, thể nhập Không Tánh. Phật Thích Ca xưng rằng Ngài là Phật đã thành còn chúng sinh là Phật sẽ thành, nhưng trên 2500 năm qua, lịch sử chỉ ghi nhận có mỗi một mình Ngài Thích Ca tự xưng là Phật. Nói cách khác, chỉ có mỗi một mình người lập ra thuyết Vô Ngã xưng nhận là mình đã chứng nghiệm được thuyết ấy.

Vô ngã

 

1- Giới thiệu

Triết lý nhà Phật đặt nền tảng trên chử CÓ: Có đau khổ, và được chấm dứt bằng một chử KHÔNG: Vô ngã. Giác ngộ vô ngã là giải thoát. Do đó, trọng tâm của triết lý nhà Phật là giáo lý vô ngã. Giáo lý này cho rằng một bản ngã vĩnh hằng, bất biến chỉ là ảo giác và niềm tin vào sự hiện hữu của một bản ngã như vậy là căn nguyên của mọi đau khổ [1]. Niềm tin đó khuấy động nên sự ham muốn bảo vệ ngã và sự thù hận khi ngã bị xúc phạm. Ham muốn và thù hận là nguyên căn của những hành vi xấu; hành vi xấu tạo ra nghiệp xấu [2]; nghiệp xấu là động cơ giam hãm con người vào trong vòng luân hồi. Do vậy, sự vô minh (bị ảo giác về sự hiện hữu của một bản ngã) là nguyên nhân của sự đau khổ. Do đó muốn thoát ra khỏi sự đau khổ thì phải giác ngộ vô ngã. Ngộ vô ngã tức là nhập Niết Bàn, là khi vòng luân hồi ngừng quay. Điều này không có nghĩa rằng sự đau khổ không còn hiện hữu nữa khi nhập Niết Bàn, nhưng là chúng sanh (là quan sát viên của sự đau khổ) chấm dứt hiện hữu. Nhập Niết Bàn được ví như một ngọn đèn đã phụt tắt, như bánh xe ngừng quay, như trái bóng ngừng dội ngược lên trời.

Làm sao mà quên được

(Nhân ngày 30-4, tôi viết bài nầy để kính tặng đồng bào tôi, đặc biệt các bậc trưởng thượng, bậc đàn anh của tôi là những người đã từng hy sinh tuổi thanh xuân, xương máu, trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền tự chủ cho miền Nam đến 30-4-75, và cuối cùng tiếp tục chiến đấu đến khi vào tù, để cho người khác đủ thì giờ lên phi cơ, xuống tàu di tản ra hải ngoại lánh nạn việt cộng. Bài viết nầy tôi cũng không thể phân loại là tôn giáo hay chính trị, nhưng là một hình thức tôi dành để tâm tình với những anh chị em cùng niềm tin trong Chúa với tôi, là  những người từng hưởng đời êm ấm, tự do thờ phượng Chúa tại các thành phố, dưới sự bảo vệ của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. HQB)

Nội dung tin RSS