
2 ngày trước bạn llong có hỏi sao mọi người đâu hết rồi, mà thật dạo này diễn đàn im ắng quá có phải tất cả mọi người đang bận đối phó với cơn bão khủng hoảng kinh tế, một cơn bão lớn đang quét qua tất cả mọi người, mọi nơi. Mình xin hỏi các bạn 1 câu: liệu nước Mỹ có vượt qua được cuộc khủng hoảng này giống như đã từng vượt qua được cuộc đại khủng hoảng thập niên 20-30?? Xin trả lời ngay rằng: không bao giờ, cuộc khủng hoảng kinh tế chỉ mới là những cơn gió nhẹ báo hiệu một cơn đại cuồng phong đang tới, đây không phải là câu trả lời theo ý mình mà đây chính là câu trả lời trong Kinh thánh, một sự mầu nhiệm đã được Chúa giấu kín từ hàng ngàn năm nay, bây giờ Ngài sẽ bày tỏ cho những người nào có lòng tìm kiếm lời Ngài Với sứ điệp này trong các bạn có người đã từng nghe ,đọc qua hoặc chưa bao giờ biết tới vì sứ điệp này đã được gởi tới các vị mục sư của các bạn nhưng nhanh chóng bị xếp vào góc. Đây là cơ hội cho tất cả mọi người được nghe về sứ điệp của ĐCT, thời gian không còn bao lâu nữa, xin các bạn hãy cầu nguyện để được Đức Thánh Linh soi sáng và hãy hành động theo lời Chúa!! v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);} v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);} Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 st1\:*{behavior:url(#ieooui) } st1\:*{behavior:url(#ieooui) } /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}ĐỀ TÀI : SỰ PHÁN XÉT VỀ BA BY LÔN Phần I
- Trước khi muốn biết rõ về nhân vật Ba by lôn ở trong sách Khải huyền ( đoạn 18 ) mà sứ đồ Giăng có nói đến trong thời kỳ sau rốt và nó sẽ bị huỷ diệt hoang vu đời đời, chúng ta phải tìm lại cội nguồn ban đầu của Kinh thánh và chỉ có lấy chính lời Kinh thánh mới giải nghĩa cho lời tiên tri của sách tiên tri mà thôi.
- Cho nên trong II Phi e rơ 1 : 20 – 21 có nói rất rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh thánh lấy ý riêng giải nghĩa được, vậy mọi điều chúng ta không dùng chính Kinh thánh giải nghĩa tức là chúng ta đang dùng sự suy diễn hay là ý riêng mình.
Xem II Phi e rơ 1 : 20 – 21 “20 Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh thánh lấy ý riêng giải nghĩa được. 21 Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.
- Trở lại vấn đề Ba by lôn thì ta bắt đầu bằng câu chuyện của dân Y sơ ra ên vì họ chính là nhân vật được luôn đề cập trong Kinh thánh và từ dòng dõi đó ra một đấng Cứu thế là Chúa Jesus.
- Câu chuyện của dân Ysơ ra ên bắt đầu là đề tài “ kiếp phu tù”
v Và câu hỏi được đặt ra là tại sao họ lại bị đày đi làm phu tù ?
I. Thời kỳ phước hạnh khi dân Do thái được vào nhận đất hứa là đất đượm sữa và mật.
II. Thời kỳ họ phạm tội làm ô uế đất thánh mà Chúa đã ban cho họ và họ bị lưu đày đi làm kiếp phu tu.
III. Thời kỳ đang khi họ làm phu tù ở xứ Ba by lôn là đất của dân ngoại bang và họ phục vụ cho dân ngoại bang.
Bây giờ chúng ta sẽ phân tích từng giai đoạn của họ trong 3 bước sau đây và từ đó chúng ta sẽ hiểu về nhân vật Ba by lôn.
I. Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ phước hạnh của dân Ysơ ra ên Khi vua Đa vít trị vì nước Y sơ ra ên và ông ước ao muốn xây một cái đền thờ cho Chúa, để danh Chúa sẽ ngự tại nơi đó và Chúa trả lời cho ông là phải lắm và Chúa đã nhậm lời ông nhưng người mà xây chính là vua Sa lô môn con của Đa vít.
Xem I Sử ký 22 : 6 -13 “ 6 Bấy giờ, Đa-vít gọi Sa-lô-môn, con trai mình, truyền dặn người cất một cái đền cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 7 Đa-vít nói với Sa-lô-môn rằng: Hỡi con, ta có ý muốn xây cất một cái đền cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta; 8 nhưng có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: ngươi đã đổ huyết ra nhiều, đánh những giặc lớn lao; vậy vì ngươi đã đổ huyết ra nhiều trên đất tại trước mặt ta, nên ngươi sẽ chẳng cất đền cho danh ta. 9 Kìa, con trai mà ngươi sẽ sanh ra, nó sẽ là người thái bình: ta sẽ ban bình an cho nó; các thù nghịch ở bốn phía nó sẽ chẳng khuấy rối nó; vì tên nó sẽ là Sa-lô-môn; trong đời nó ta sẽ ban sự thái bình an tịnh cho Y-sơ-ra-ên. 10 Nó sẽ cất một cái đền cho danh ta; nó sẽ làm con trai ta, ta sẽ làm cha nó; và ta sẽ lập ngôi nước nó trên Y-sơ-ra-ên được bền vững đời đời. 11 Bây giờ, hỡi con trai ta, nguyện Đức Giê-hô-va ở cùng con và làm cho con được hanh thông; con sẽ cất cái đền cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời con, theo như lời Ngài đã phán về việc con. 12 Nguyện Đức Giê-hô-va ban cho con sự khôn ngoan thông sáng, khiến cho con cai trị trên Y-sơ-ra-ên, để con gìn giữ luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời con. 13 Nếu con cẩn thận làm theo các luật pháp và mạng lịnh mà Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se truyền cho Y-sơ-ra-ên, thì con sẽ được hanh thông. Khá vững lòng bền chí; chớ sợ sệt, chớ kinh hãi chi.”
- Bấy giờ muốn xây đền cho danh Chúa thì cần phải có nhiều vật liệu tốt và nhiều thợ, nhân công, ngưới khéo tay, khôn ngoan, các đoàn tàu có thuỷ thủ để chở gỗ quý và vàng, bạc mọi thứ cần thiết
Xem I Sử ký 22 : 14 – 19 “14 Nay ta đã chịu hoạn nạn mà sắm sửa cho đền của Đức Giê-hô-va mười vạn ta-lâng vàng, một trăm vạn ta-lâng bạc; còn đồng và sắt thì không thể cân được, vì nó nhiều quá; ta lại dự bị gỗ và đá; và con cũng sẽ thêm vào đó. 15 Vả lại, con có nhiều nhân công, thợ đục đá, thợ hồ, thợ mộc, đủ người thạo về các thứ công việc; 16 vàng, bạc, đồng, sắt, thì vô số. Hãy chỗi dậy làm, Đức Giê-hô-va sẽ ở cùng con. 17 Đa-vít cũng truyền dặn các quan trưởng của Y-sơ-ra-ên giúp đỡ Sa-lô-môn, con trai người, mà rằng: 18 Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi há chẳng ở cùng các ngươi sao? Ngài há chẳng ban cho các ngươi được bình an bốn phía sao? Vì Ngài đã phó dân của xứ vào tay ta, và xứ đã suy phục trước mặt Đức Giê-hô-va, và trước mặt dân sự Ngài. 19 Vậy bây giờ, hãy hết lòng hết ý tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; hãy chỗi dậy, xây cất đền thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời, để rước hòm giao ước của Đức Giê-hô-va và các khí dụng của đền thánh Đức Chúa Trời vào trong nhà toan cất cho danh của Đức Giê-hô-va.” Xem I Các vua 5 :1 – 8 “1 Hi-ram, vua Ty-rơ, hay Sa-lô-môn đã được xức dầu làm vua đặng kế-vị cha người, bèn sai tôi-tớ mình đến cùng người; vì Hi-ram vẫn yêu-mến Đa-vít luôn. 2 Sa-lô-môn sai sứ nói với Hi-ram rằng: 3 Vua biết rằng Đa-vít, thân-phụ tôi, không cất được một cái đền cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời người, vì cớ chinh-chiến thù-nghịch vây tứ phía người, cho đến ngày Đức Giê-hô-va đã khiến chúng nó phục dưới chân người. 4 Nhưng bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi đã ban cho tôi bằng-yên tứ phía, chẳng còn cừu-địch, chẳng còn tai-họa. 5 Vậy, tôi tính cất một cái đền cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, theo như Đức Giê-hô-va đã phán cùng Đa-vít, cha tôi, mà rằng: Con trai ngươi, mà ta sẽ khiến ngồi trên ngai ngươi kế-vị ngươi, sẽ cất một cái đền cho danh ta. 6 Vậy, bây giờ, xin vua hãy truyền cho đầy-tớ của vua đốn cho tôi cây bá-hương trên núi Li-ban; tôi cũng sẽ truyền cho các đầy-tớ tôi giúp-đỡ các đầy-tớ vua, và tôi sẽ phát cho vua công-giá của họ, tùy theo vua sẽ định; vì vua biết rằng chẳng ai trong chúng ta thạo đốn gỗ như dân Si-đôn. 7 Khi Hi-ram nghe lời của Sa-lô-môn, thì mừng lắm, mà rằng: Ngày nay đáng khen-ngợi thay Đức Giê-hô-va, vì đã ban cho Đa-vít một con trai khôn-ngoan, để trị-vì dân-sự lớn nầy! 8 Hi-ram bèn sai sứ đáp lời cho Sa-lô-môn rằng: Tôi đã nghe được lời vua sai nói với tôi; mọi điều vua ước-ao về gỗ bá-hương và gỗ tòng, thì tôi sẽ làm hết. 9 Các đầy-tớ tôi sẽ kéo gỗ ấy từ Li-ban đến biển, đóng bè thả biển cho đến nơi vua sẽ chỉ cho. Ở đó tôi sẽ sả nó ra, và vua sẽ nhận lấy đem đi. Còn vua, sẽ làm cho thỏa ý tôi mà cấp lương-thực cho nhà tôi. 10 Vậy, Hi-ram cấp cho Sa-lô-môn gỗ bá-hương và gỗ tòng, bao nhiêu tùy người muốn. 11 Còn Sa-lô-môn cấp cho Hi-ram hai vạn cô-rơ lúa mạch, dùng làm lương-thực cho nhà người, và hai mươi cô-rơ dầu rất trong. Đó là số Sa-lô-môn cấp cho Hi-ram mỗi năm. 12 Như vậy, Đức Giê-hô-va ban sự khôn-ngoan cho Sa-lô-môn y như Ngài đã hứa với người. Hi-ram và Sa-lô-môn hòa nhau và lập giao-ước với nhau. 13 Vua Sa-lô-môn chiêu-mộ trong cả Y-sơ-ra-ên những người làm xâu, số là ba vạn người, 14 sai họ đi đến Li-ban, thay phiên mỗi tháng mười ngàn người; họ ở một tháng tại Li-ban và hai tháng nơi nhà mình; A-đô-ni-ram quản-xuất người làm xâu. 15 Sa-lô-môn còn có bảy vạn người khiêng gánh, và tám vạn người đẽo đá trong núi, 16 không kể những đốc-công, số là ba ngàn ba trăm người, mà Sa-lô-môn đã đặt coi-sóc công việc và sai khiến dân làm việc. 17 Vua truyền họ lấy đá lớn, đá quí giá mà đẽo đi, đặng dùng làm nền của đền-thờ. 18 Các thợ của Sa-lô-môn và của Hi-ram, với người Ghi-bê-lít, đẽo đá và dọn cây cùng đá đặng cất đền.”
“7 Chánh đêm ấy, Đức Chúa Trời hiện đến cùng Sa-lô-môn, mà phán rằng: Ngươi muốn ta ban cho điều gì, hãy xin đi. 8 Sa-lô-môn thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Chúa đã ban ơn rộng cho Đa-vít, cha tôi, và đã đặt tôi làm vua thế cho người. 9 Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, bây giờ nguyện cho lời Chúa hứa cùng Đa-vít, cha tôi, được ứng nghiệm; vì Chúa đã lập tôi lên làm vua dân sự nầy đông như bụi đất. 10 Vậy, xin Chúa ban cho tôi sự khôn ngoan và tri thức, để tôi ra vào trước mặt dân sự nầy; vì ai dễ xét đoán được dân của Chúa rất đông dường kia? 11 Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn rằng: Ta đã lập ngươi làm vua dân sự ta; vả, vì ngươi có lòng như vậy, không có cầu xin sự giàu có, của cải, tôn vinh, hay là mạng sống của những kẻ ghen ghét ngươi, và cũng chẳng có xin sự sống lâu, nhưng lại cầu xin sự khôn ngoan và tri thức cho mình, để xét đoán dân sự ta, 12 nên ta đã ban sự khôn ngoan và tri thức cho ngươi; ta lại sẽ ban cho ngươi sự giàu có, của cải, tôn vinh, đến đỗi các vua trước ngươi không hề có như vậy, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có vua nào được như thế. 13 Đoạn, Sa-lô-môn từ nơi cao tại Ga-ba-ôn, ở trước hội mạc, trở về Giê-ru-sa-lem; và người cai trị Y-sơ-ra-ên. 14 Sa-lô-môn nhóm những xe và lính kỵ, được một ngàn bốn trăm cỗ xe, và mười hai ngàn lính kỵ; người để nó trong thành chứa xe, và gần nơi vua tại Giê-ru-sa-lem. 15 Vua làm cho bạc vàng trong Giê-ru-sa-lem ra thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung nơi đồng bằng. 16 Còn ngựa của Sa-lô-môn đều từ Ê-díp-tô mà ra; các con buôn của vua đi lãnh mua nó từng bầy, mỗi bầy theo giá nhất định. 17 Người ta từ xứ Ê-díp-tô mua đem lên một cái xe giá sáu trăm siếc-lơ bạc, còn một con ngựa giá một trăm năm mươi siếc-lơ; các vua dân Hê-tít và vua Sy-ri cũng theo giá ấy nhờ những con buôn của vua mà mua về.”
Trước khi đền thờ xây cất xong và Vua Sa lô môn làm lễ khánh thành đền thờ thì ông cầu nguyện với Chúa để xin sự khôn ngoan để có thể chăn dắt dân sự của Chúa. Và Chúa đã đẹp lòng điều ông cầu xin sự khôn ngoan mà thôi, Chúa còn ban thêm cho ông và đất nước Ysơ ra ên sự giàu có, của cải, tôn vinh đến nỗi không có nước nào trên thế gian có thể sánh được nước Y sơ ra ên Sau đó Chúa đã ban cho nước ông được phong là ngôi “Hoàng hậu” tức là vợ của Vua là Đức Chúa Trời theo nghĩa thuộc linh
Xem Ê xê chi ên 16 : 1 -14 “1 Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy: 2 Hỡi con người, hãy làm cho Giê-ru-sa-lem biết những sự gớm ghiếc của nó. 3 Ngươi khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán cùng Giê-ru-sa-lem như vầy: Bởi cội rễ và sự sanh ra của mầy ở đất Ca-na-an; cha mầy là người A-mô-rít, mẹ là người Hê-tít. 4 Về sự mầy sanh ra, trong ngày mầy mới đẻ, rún mầy chưa cắt, chưa rửa mầy trong nước cho được thanh sạch, chưa xát bằng muối, chưa bọc bằng khăn. 5 Chẳng có mắt nào thương xót mầy, đặng làm một việc trong những việc đó cho mầy vì lòng thương xót mầy; song mầy đã bị quăng giữa đồng trống trong ngày mầy sanh ra, vì người ta gớm mầy. 6 Khi ta qua gần mầy, thấy mầy tắm trong máu mình, ta phán cùng mầy rằng: Dầu ở giữa máu mầy, hãy sống! Thật, ta phán cùng mầy rằng: Dầu ở giữa máu mầy, hãy sống! 7 Ta đã làm cho mầy thêm nhiều ra, như vật đồng ruộng mọc lên. Mầy đã nẩy nở, lớn lên, và trở nên đẹp đẽ lắm. Vú mầy dậy lên, tóc mầy dài ra, nhưng hãy còn ở lỗ và trần truồng. 8 Khi ta qua gần mầy, và nhìn mầy, nầy, tuổi mầy nầy, mầy đã đến tuổi yêu mến. Ta lấy áo ngoài ta trùm trên mầy, che sự trần truồng mầy. Phải, ta thề cùng mầy và kết giao ước với mầy, thì mầy trở nên của ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy. 9 Ta rửa mầy trong nước, làm cho sạch máu vấy mình mầy, và xức dầu cho. 10 Ta mặc áo thêu cho mầy, cho mầy mang giày sắc lam, thắt lưng mầy bằng vải gai mịn, đắp cho mầy bằng hàng lụa. 11 Ta lấy đồ trang sức giồi cho mầy, xỏ vòng vào tay, mang kiềng vào cổ, 12 tra khoen nơi mũi, đeo hoa vào tai, và đội mão đẹp trên đầu mầy. 13 Như vậy, mầy được trang sức bằng vàng bằng bạc; áo xống của mầy bằng vải gai mịn, bằng hàng lụa, bằng đồ thêu; mầy nuôi mình bằng bột mì lọc, bằng mật ong và bằng dầu. Mầy đã trở nên cực đẹp, và thạnh vượng đến nỗi được ngôi hoàng hậu. 14 Danh tiếng mầy lừng lẫy trong các nước bởi sắc đẹp mầy vì sự đẹp là trọn vẹn bởi oai nghi của ta mà ta đã đặt trên mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Trong phân đoạn này Chúa nhắc lại cho dân Y sơ ra ên nhớ lại đất nước của họ là nguồn gốc đất Ca na an năm xưa đầy những sự ô uế và tội lỗi, Chúa đã đem họ vào đó rửa cho họ sạch và họ trở nên cực đẹp, thành ngôi hoàng hậu. - Ngày xưa khi vua lập 1 hoàng hậu thì các cung phi đều ước ao đều đó, vì khi người nào được lập hoàng hậu thì luôn được ở bên cạnh vua và hưởng tất cả mọi đều cao quý, phước hạnh, địa vị và mọi người khác trở thành thần dân phục vụ vua và hoàng hậu
Xem Thi thiên 125 : 1 – 2 “1 Những người tin cậy nơi Đức Giê-hô-va Khác nào núi Si-ôn không rúng động, Hằng còn đến đời đời. 2 Các núi vây quanh Giê-ru-sa-lem thể nào, Đức Giê-hô-va vây phủ dân sự Ngài thể ấy, Từ rày cho đến đời đời.”
Trong câu này Chúa ví danh Chúa đặt tại Si ôn và Giê ru sa lem ở giữa được Chúa vây phủ và che chở như núi che thành Giê ru sa lem. Từ khi đất nước Y sơ ra ên họ được phong ngôi hoàng hậu, bắt đầu từ thời kỳ vua Sa lô môn thì tất cả các nước khác đều phải phục vụ họ và mỗi năm phải đem những lễ vật đến cống nạp
Xem II Sử ký 9 : 13 – 28 “13 Vàng mà vua Sa-lô-môn nhận được mỗi năm cân đến sáu trăm bảy mươi ta-lâng, 14 không kể vàng mà các nhà buôn bán rong đem vào, cùng vàng và bạc mà các vua A-ra-bi và quan tổng trấn của xứ đem nộp cho Sa-lô-môn. 15 Sa-lô-môn làm hai trăm cái khiên lớn bằng vàng đánh dát, cứ mỗi cái dùng sáu trăm siếc-lơ vàng đánh dát, 16 và ba trăm cái khiên nhỏ bằng vàng đánh dát, cứ mỗi cái dùng ba trăm siếc-lơ vàng; đoạn vua để các khiên ấy nơi cung rừng Li-ban. 17 Vua cũng làm một cái ngai lớn bằng ngà, và bọc vàng ròng; 18 cái ngai có sáu nấc lên, và một cái bệ bằng vàng liền với cái ngai; cũng có thanh nâng tay bên này và bên kia của chỗ ngồi, gần thanh nâng tay có hai con sư tử. 19 Lại có mười hai con sư tử đứng trên sáu nấc, bên hữu và bên tả: Chẳng có nước nào làm ngai giống như vậy. 20 Các đồ dùng để uống của vua Sa-lô-môn đều bằng vàng, và những khí dụng của cung rừng Li-ban cũng đều bằng vàng ròng: Trong đời Sa-lô-môn, chẳng kể bạc ra gì, 21 vì vua có đoàn tàu vượt sang Ta-rê-si với các tôi tớ của Hi-ram: Mỗi ba năm một lần, đoàn tàu Ta-rê-si chở đến vàng, bạc, ngà voi, con khỉ và con công. 22 Ấy vậy, vua Sa-lô-môn trổi hơn các vua trên đất về sự khôn ngoan. 23 Các vua trên đất đều cầu thấy mặt Sa-lô-môn, đặng nghe sự khôn ngoan của người mà Đức Chúa Trời đã để trong lòng người. 24 Cứ hằng năm theo lệ định, chúng đều đem đến vật mình tiến cống, nào những khí dụng bằng bạc, bằng vàng, nào áo xống, binh khí, nào thuốc thơm, ngựa và la. 25 Vua Sa-lô-môn có được bốn ngàn tàu ngựa và xe, cùng một vạn hai ngàn lính ky, để trong các thành chứa xe, và gần bên vua, tại Giê-ru-sa-lem. 26 Người quản trị trên các vua, từ sông cái cho đến xứ Phi-li-tin, và cho đến bờ cõi Ê-díp-tô. 27 Tại Giê-ru-sa-lem, vua làm cho bạc ra thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung mọc ở nơi đồng bằng. 28 Có người đem cho Sa-lô-môn những ngựa từ xứ Ê-díp-tô và từ các nước mà đến.”
- Từ đời vua Sa lô môn trở đi về sau các vua khác thì họ rất là sung sướng hưởng tất cả mọi thứ ở trần gian này, sự khôn ngoan, vinh hiển, thức ăn dư dật tràn đầy, các thuỷ thủ, các nhà buôn trên đất đều luôn luôn chở các loại vật liệu quý giá, các thức ăn ngon để đem tới phục vụ cho đất nước Y sơ ra ên
Xem II Sử ký 9 : 1 – 12 “1 Khi nữ vương nước Sê-ba nghe đồn danh tiếng của Sa-lô-môn, bèn đi đến Giê-ru-sa-lem, lấy những câu đố mà thử người, bà có người hầu hạ theo rất đông, có những lạc đà chở thuốc thơm, rất nhiều vàng, và đá quí; bà đến cùng Sa-lô-môn, nói với người mọi điều có ở trong lòng mình. 2 Sa-lô-môn đáp các câu hỏi của bà, chẳng câu nào ẩn bí quá cho Sa-lô-môn mà người không giải nghĩa nổi cho bà. 3 Khi nữ vương Sê-ba thấy sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện người đã xây cất, 4 những món ăn trên bàn người, nhà cửa các tôi tớ, thứ tự công việc của các quan, và đồ mặc của họ, các quan chước tửu và áo xống của họ, cùng các của lễ thiêu người dâng trong đền Đức Giê-hô-va, thì mất vía, 5 bèn nói với vua rằng: Điều tôi nghe nói trong xứ tôi về các lời nói và sự khôn ngoan của vua, thì thật lắm. 6 Song trước khi tôi chưa đến đây và chưa thấy tận mắt những điều nầy, thì tôi chẳng tin lời họ; và kìa, người ta chẳng thuật cho tôi nghe đến phân nửa sự khôn ngoan lớn lao của vua; vua thật trổi hơn tiếng đồn tôi đã nghe. 7 Các quần thần của vua thật có phước thay! Các tôi tớ vua, hằng đứng chầu trước mặt vua, nghe được sự khôn ngoan của vua, thật có phước thay! 8 Đáng ngợi khen thay Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua, vì Ngài vui thích vua, đặt vua ngồi trên ngôi của Ngài đặng làm vua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua! Bởi vì Đức Chúa Trời của vua yêu mến Y-sơ-ra-ên, đặng làm cho chúng vững bền đến đời đời, nên Ngài đã lập vua làm vua trên chúng, để làm theo sự ngay thẳng và sự công bình. 9 Đoạn, bà dâng cho vua một trăm hai mươi ta-lâng vàng, và rất nhiều thuốc thơm, cùng đá quí; chẳng hề có thuốc thơm nào giống như thuốc thơm của nữ vương nước Sê-ba dâng cho vua Sa-lô-môn. 10 (Các tôi tớ của Hu-ram và tôi tớ của Sa-lô-môn từ Ô-phia chở vàng đến, cũng có chở về gỗ bạch đàn hương và đá quí. 11 Vua dùng gỗ bạch đàn hương ấy mà làm cái thang trong đền của Đức Giê-hô-va, và trong cung điện vua, cùng những đàn cầm đàn sắt cho con hát: Trước kia trong nước Giu-đa, người ta chẳng hề thấy có giống như vậy). 12 Vua Sa-lô-môn tặng cho nữ vương nước Sê-ba mọi đồ bà ước ao và xin, gấp nhiều hơn đồ bà đã đem dâng cho vua. Đoạn, bà và các đầy tớ bà trở về xứ mình.” - Đất nước họ luôn sống yên vui để thờ phượng Chúa, suốt ngày chỉ lo ca hát, vui mừng, thức ăn thì dư dật tràn đầy, những người già cả thì ngồi tại cửa thành xem người ta mua bán, không sợ chiến tranh
Xem Giê rê mi 25 : 10 “10 Vả, ta sẽ làm cho trong vòng chúng nó hết tiếng reo vui và kêu mừng, hết tiếng của rể mới và dâu mới, hết tiếng ầm ầm của cối xay và ánh sáng của đèn.”
Dân Y sơ ra ên lúc đó chỉ hò hát reo vui và kêu mừng, tiếng của rể mới và dâu mới, tiếng ầm ầm của cối xay và ánh sáng của đèn, lể tạ ơn
Xem Ê sai 33 : 20 “20 Hãy nhìn xem Si-ôn, là thành của các kỳ lễ trọng thể chúng ta! Mắt ngươi sẽ thấy Giê-ru-sa-lem, là chỗ ở yên lặng, là trại sẽ không dời đi nữa, các nọc nó chẳng hề nhổ lên, chẳng có một cái dây nào đứt!”
Xem Xa cha ri 8 :4 4 Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Sẽ còn có những ông già, bà già ở trong các đường phố Giê-ru-sa-lem, ai nấy sẽ cầm gậy nơi tay, vì cớ mình cao tuổi. 5 Các đường phố trong thành sẽ đầy những con trai con gái vui chơi trong đó.
Ca thương thì cho biết họ đẹp đẽ, sang trọng giống như vàng ròng, bích ngọc
Xem Ca thương 4 : 1 – 2; 7 “1 Than ôi! Vàng mờ tối, vàng ròng biến đổi dường nào! Đá nơi thánh đổ ra nơi mọi góc đường phố! 2 Các con trai của Si-ôn quí báu khác nào vàng ròng, Nay coi như bình đất sét là việc của tay thợ gốm làm!” 7 Các người sang trọng của nó tinh hơn tuyết, trắng hơn sữa. Nước da đỏ hồng hơn san hô, mình mẩy sáng ngời như bích ngọc.
“14 Các người già cả không còn ngồi nơi cửa thành, Bọn trai trẻ không còn chơi đàn hát.”
Xem Ca thương 2 : 15 “15 Lòng chúng tôi hết cả sự vui; Cuộc nhảy múa đổi ra tang chế.”
II. Thời kỳ thứ 2 là khi đất nước họ bắt đầu phạm tội - Sau đó các đời vua từ lúc Sa lô môn cưới quá nhiều hoàng hậu và nhiều cung phi, ông lập cho họ những cung đền, nơi cao để cho những hòng hậu ngoại bang thờ những thần tượng gớm ghiếc, đất nước thì đầy tội lỗi, bỏ thờ phượng ĐCT của mình.
Xem I Các Vua 11 : 1 - 13 “1 Ngoài con gái của Pha-ra-ôn, vua Sa-lô-môn lại còn thương-mến nhiều người nữ của dân ngoại: tức là người nữ Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Si-đôn, và Hê-tít. 2 Chúng nó thuộc về các dân-tộc mà Đức Giê-hô-va có phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi và chúng nó chớ đi lại giao-thông với nhau; vì chúng nó hẳn sẽ quyến-dụ lòng các ngươi hướng theo các thần chúng nó. Sa-lô-môn tríu-mến những người nữ ấy. 3 Người có bảy trăm hoàng-hậu, và ba trăm cung-nữ; chúng nó bèn làm cho người trở lòng. 4 Trong buổi già-yếu, các hoàng-hậu của Sa-lô-môn dụ lòng người đi theo các thần khác: Đối cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, lòng người chẳng trọn-lành như thể lòng của Đa-vít, là cha người. 5 Vì Sa-lô-môn cúng-thờ Át-tạt-tê, nữ-thần của dân Si-đôn, và thần Minh-côm [†] Nghĩa là thần Mo-lóc, thần của dân Am-môn , là thần đáng gớm-ghiếc của dân Am-môn. 6 Như vậy, Sa-lô-môn làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, chẳng vâng theo Đức Giê-hô-va cách trọn-lành như Đa-vít, cha người, đã làm. 7 Bấy giờ, Sa-lô-môn lại xây-cất tại trên núi đối ngang Giê-ru-sa-lem, một nơi cao cho Kê-móc, vật đáng gớm-ghiếc của dân Mô-áp, và cho Mo-lóc, vật đáng gớm-ghiếc của dân Am-môn. 8 Vua cũng làm như vậy cho hết thảy các hoàng-hậu ngoại của mình, xông hương và tế-lễ cho thần của chúng nó. 9 Đức Giê-hô-va nổi giận cùng Sa-lô-môn, bởi vì lòng người trở bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã hai lần hiện đến cùng người, 10 phán bảo người rằng chớ theo các thần khác; nhưng người không vâng theo lịnh của Đức Giê-hô-va. 11 Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn rằng: Bởi vì ngươi đã làm điều nầy, không giữ giao-ước và luật-pháp ta truyền cho ngươi, nên ta chắc sẽ đoạt lấy nước khỏi ngươi, cho kẻ tôi-tớ ngươi. 12 Song vì cớ Đa-vít, cha ngươi, ta sẽ chẳng làm điều đó trong đời ngươi. Ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay con trai ngươi. 13 Lại ta chẳng đoạt lấy cả nước khỏi nó; song vì cớ Đa-vít, đầy-tớ ta, và vì cớ Giê-ru-sa-lem mà ta đã chọn, ta sẽ để lại một chi-phái cho con trai ngươi.”
- Trong thời gian sau đó Chúa đã sai rất nhiều tiên tri đến để cảnh cáo, khuyên răn họ nên ăn năn, nếu họ không chịu ăn năn thì Chúa sẽ cho dân ngoại đến huỷ phá đất nước họ và lưu đày họ đi làm phu tù ở dân ngoại. Hầu ứng nghiệm lời tiên tri của Môi se có báo trước và giảng cho họ khi dân sự chuẩn bị vào đất hứa.
Xem Phục truyền 28 “1 Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cách trung thành, cẩn thận làm theo mọi điều răn của Ngài, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban cho ngươi sự trổi hơn mọi dân trên đất. 2 Nếu ngươi nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, nầy là mọi phước lành sẽ giáng xuống trên mình ngươi: 3 Ngươi sẽ được phước trong thành, và được phước ngoài đồng ruộng. 4 Bông trái của thân thể ngươi, hoa quả của đất ruộng ngươi, sản vật của sinh súc ngươi, luôn với lứa đẻ của bò cái và chiên cái ngươi, đều sẽ được phước; 5 cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi đều sẽ được phước! 6 Ngươi sẽ được phước trong khi đi ra, và sẽ được phước trong khi vào. 7 Đức Giê-hô-va sẽ làm cho kẻ thù nghịch dấy lên cùng ngươi bị đánh bại trước mặt ngươi; chúng nó sẽ do một đường ra đánh ngươi, rồi do bảy đường chạy trốn trước mặt ngươi. 8 Đức Giê-hô-va sẽ khiến phước lành ở cùng ngươi tại trong kho lúa và trong các công việc của ngươi; Ngài sẽ ban phước cho ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi. 9 Nếu ngươi gìn giữ những điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và đi theo đường lối Ngài, thì Đức Giê-hô-va sẽ lập ngươi làm một dân thánh cho Ngài, y như Ngài đã thề cùng ngươi; 10 muôn dân của thế gian sẽ thấy rằng ngươi được gọi theo danh Đức Giê-hô-va, và chúng nó sẽ sợ ngươi. 11 Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ làm cho ngươi được của cải nhiều dư dật, khiến cho hoa quả của thân thể ngươi, sản vật của sinh súc, và bông trái của đất ruộng ngươi được sanh nhiều thêm trong xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề cùng các tổ phụ ngươi để ban cho ngươi. 12 Đức Giê-hô-va sẽ vì ngươi mở trời ra, là kho báu của Ngài, đặng cho mưa phải thì giáng xuống đất, và ban phước cho mọi công việc của tay ngươi. Ngươi sẽ cho nhiều nước vay, còn ngươi không vay ai. 13 - 14 Nếu ngươi nghe theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà ngày nay ta truyền cho ngươi gìn giữ làm theo, và nếu không lìa bỏ một lời nào ta truyền cho ngươi ngày nay, mà xây qua bên hữu hoặc bên tả, đặng đi theo hầu việc các thần khác, thì Đức Giê-hô-va sẽ đặt ngươi ở đằng đầu, chớ chẳng phải đằng đuôi, ngươi sẽ ở trên cao luôn luôn, chớ chẳng hề ở dưới thấp. 15 Nhưng nếu ngươi không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, không cẩn thận làm theo các điều răn và luật pháp của Ngài mà ta truyền cho ngươi ngày nay, thì nầy là mọi sự rủa sả sẽ giáng xuống trên mình ngươi và theo kịp ngươi: 16 Ngươi sẽ bị rủa sả ở trong thành và ngoài đồng ruộng, 17 cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi cũng bị rủa sả, 18 hoa quả của thân thể ngươi, bông trái của đất ruộng ngươi, luôn với lứa đẻ của bò cái và chiên cái ngươi, đều sẽ bị rủa sả! 19 Ngươi sẽ bị rủa sả khi đi ra và lúc đi vào. 20 Vì cớ ngươi làm điều ác, và lìa bỏ Đức Giê-hô-va, nên trong mọi công việc ngươi bắt tay làm, Ngài sẽ khiến giáng cho ngươi sự rủa sả, kinh khủng, và hăm dọa cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt và chết mất vội vàng. 21 Đức Giê-hô-va sẽ khiến ôn dịch đeo đuổi ngươi cho đến chừng nào nó diệt ngươi mất khỏi đất mà ngươi sẽ vào nhận lấy. 22 Đức Giê-hô-va sẽ lấy bịnh lao, bịnh nóng lạnh, bịnh phù, sự nắng cháy, sự hạn hán, binh đao, và sâu lúa mà hành hại ngươi, khiến cho các nỗi đó đuổi theo ngươi cho đến khi ngươi bị chết mất. 23 Các từng trời ở trên đầu ngươi sẽ như đồng, và đất dưới chân ngươi sẽ như sắt. 24 Thay vì mưa, Đức Giê-hô-va sẽ khiến cát và bụi từ trời sa xuống trên đất ngươi, cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt. 25 Đức Giê-hô-va sẽ khiến ngươi bị những kẻ thù nghịch mình đánh bại. Ngươi sẽ do một đường ra đánh chúng nó, rồi do bảy đường chạy trốn trước mặt chúng nó; ngươi sẽ bị xô đùa đây đó trong khắp các nước của thế gian. 26 Thây ngươi sẽ làm đồ ăn cho chim trên trời và thú dưới đất, không ai đuổi chúng nó đi. 27 Đức Giê-hô-va sẽ giáng cho ngươi ghẻ chốc của xứ Ê-díp-tô, trĩ lậu, ghẻ ngứa, và lác, mà ngươi không thể chữa lành; 28 lại giáng cho ngươi sự sửng sốt, sự đui mù, và sự lảng trí; 29 đương buổi trưa, ngươi sẽ đi rờ rờ như kẻ mù trong tối tăm; ngươi không được may mắn trong công việc mình, hằng ngày sẽ bị hiếp đáp và cướp giựt, chẳng ai giải cứu cho. 30 Ngươi sẽ làm lễ hỏi một người nữ, nhưng một người nam khác lại nằm cùng nàng; ngươi cất một cái nhà, nhưng không được ở; ngươi trồng một vườn nho, song không được hái trái. 31 Con bò ngươi sẽ bị giết trước mặt ngươi, song ngươi không được ăn thịt nó; lừa ngươi sẽ bị ăn cắp trước mắt ngươi, nhưng không ai trả nó lại; chiên ngươi sẽ bị nộp cho kẻ thù nghịch, nhưng ngươi không có ai giải cứu nó. 32 Các con trai và con gái ngươi sẽ bị nộp cho dân ngoại bang có mắt ngươi thấy, hằng ngày hao mòn vì trông mong chúng nó; song tay ngươi không còn sức cứu vớt. 33 Một dân tộc mà ngươi chưa hề biết sẽ ăn lấy thổ sản và mọi công lao của ngươi; ngươi sẽ bị hiếp đáp và giày đạp không ngớt, 34 trở nên điên cuồng vì cảnh tượng mắt mình sẽ thấy. 35 Đức Giê-hô-va sẽ giáng cho ngươi một thứ ung độc tại trên đầu gối và chân, không thể chữa lành được, tự bàn chân chí chót đầu. 36 Đức Giê-hô-va sẽ dẫn ngươi và vua mà ngươi đã lập trên mình, đến một nước mà ngươi và tổ phụ ngươi chưa hề biết. Ở đó, ngươi sẽ hầu việc các thần khác bằng cây, bằng đá; 37 trong các dân tộc mà Đức Giê-hô-va sẽ dẫn ngươi đến, ngươi sẽ thành một sự kinh hãi, tục ngữ, và tiếu đàm. 38 Ngươi sẽ đem gieo nhiều mạ trong ruộng mình, nhưng mùa gặt lại ít, vì sẽ bị cào cào ăn sạch. 39 Ngươi trồng nho, song không được uống rượu và không gặt hái chi hết, vì sâu bọ sẽ ăn phá đi. 40 Ngươi sẽ có cây ô-li-ve trong cả địa phận mình, nhưng lại không được xức dầu, vì cây ô-li-ve sẽ rụng trái. 41 Ngươi sẽ sanh con trai và con gái, nhưng chúng nó không thuộc về ngươi, vì chúng nó sẽ bị bắt làm mọi. 42 Con rầy sẽ ăn hết cây cối và thổ sản của ngươi. 43 Khách lạ ở giữa ngươi sẽ lướt trên ngươi càng ngày càng cao; còn ngươi, lại hạ xuống càng ngày càng thấp: 44 họ sẽ cho ngươi vay, còn ngươi chẳng hề cho vay lại, họ sẽ ở đằng đầu, còn ngươi ở đằng đuôi. 45 Hết thảy những sự chúc rủa sả nầy sẽ giáng trên ngươi, đuổi ngươi và theo kịp, cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt, bởi vì ngươi không có nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và không giữ các điều răn và luật lệ mà Ngài truyền cho ngươi. 46 Các sự rủa sả nầy sẽ ở trên mình ngươi và trên dòng dõi ngươi như một dấu kỳ, sự lạ đến đời đời. 47 Bởi trong lúc dư dật mọi điều, ngươi không vui lòng lạc ý phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, 48 cho nên trong lúc đói khát, trong lúc trần truồng, và thiếu thốn mọi điều, ngươi sẽ hầu việc kẻ thù nghịch mà Đức Giê-hô-va sai đến đánh ngươi; họ sẽ tra ách sắt trên cổ ngươi, cho đến chừng nào tiêu diệt ngươi. 49 Đức Giê-hô-va sẽ từ nơi xa, từ địa cực, khiến dấy lên nghịch cùng ngươi một dân tộc bay như chim ưng, tức là một dân tộc ngươi không nghe tiếng nói được, 50 một dân tộc mặt mày hung ác, không nể vì người già, chẳng thương xót kẻ trẻ; 51 ăn sản vật của súc vật ngươi, hoa quả của đất ruộng ngươi, cho đến chừng nào ngươi bị tiêu diệt; nó không chừa lại ngũ cốc, rượu, dầu, hay là lứa đẻ của bò và chiên ngươi, cho đến chừng nào đã tiêu diệt ngươi đi. 52 Dân đó sẽ vây ngươi trong các thành của cả xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi, cho đến chừng nào những vách cao lớn và vững bền kia mà ngươi nhờ cậy đó, sẽ bị ngã xuống. 53 Trong lúc bị vây, và khi quân nghịch làm cho túng thế cùng đường, ngươi sẽ ăn hoa quả của thân thể mình, tức là ăn thịt của con trai và con gái mình, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi. 54 - 55 Trong lúc ngươi bị quân nghịch vây tại các thành mình, làm cho cùng đường túng thế, người nam nào nhu nhược và yếu ớt hơn hết trong các ngươi sẽ ngó giận anh em mình, vợ yêu dấu và con cái mình còn lại, không chịu cho ai trong bọn đó thịt của con cái mình, mà người sẽ ăn, bởi mình không còn chi hết. 56 - 57 Trong lúc ngươi bị quân nghịch vây tại các thành mình, làm cho cùng đường túng thế, người nữ nào non nớt và mảnh khảnh hơn hết trong các ngươi, vì sự yểu điệu hay là sự sắc sảo mình, vốn không đặt bàn chân xuống đất, sẽ nhìn giận chồng rất yêu của mình, con trai và con gái mình, bởi cớ nhau bọc ra từ trong bụng, và những con cái mình sanh đẻ; vì trong cơn thiếu thốn mọi điều, nàng sẽ ăn nhẹm chúng nó. 58 Nếu ngươi không cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy, ghi trong sách nầy, không kính sợ danh vinh hiển và đáng sợ nầy là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, 59 thì Đức Giê-hô-va sẽ giáng cho ngươi và dòng giống ngươi những tai vạ lạ thường, lớn lao và lâu bền, những chứng độc bịnh hung. 60 Ngài sẽ khiến giáng trên ngươi các bịnh hoạn của xứ Ê-díp-tô mà ngươi đã run sợ đó, và nó sẽ đeo dính theo ngươi. 61 Vả lại, các thứ chứng bịnh và tai vạ không có chép trong sách luật pháp nầy, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ khiến giáng trên ngươi, cho đến chừng nào ngươi bị tiêu diệt đi. 62 Số các ngươi vốn đông như sao trên trời, nhưng vì không có nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, nên chỉ sẽ còn lại ít. 63 Hễ Đức Giê-hô-va lấy làm vui mà làm lành và gia thêm các ngươi thể nào, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ lấy làm vui mà làm cho các ngươi hư mất và tiêu diệt các ngươi thể ấy. Các ngươi sẽ bị truất khỏi xứ mà mình vào nhận lấy, 64 và Đức Giê-hô-va sẽ tản lạc ngươi trong các dân, từ cuối đầu nầy của đất đến cuối đầu kia; tại đó, ngươi sẽ hầu việc các thần khác bằng cây và bằng đá mà ngươi cùng tổ phụ ngươi không hề biết. 65 Trong các nước ấy, ngươi không được an tịnh, bàn chân ngươi không được nghỉ ngơi; nhưng tại đó Đức Giê-hô-va sẽ ban cho ngươi một tấm lòng run sợ, mắt mờ yếu, và linh hồn hao mòn. 66 Sự sống ngươi vẫn không chắc trước mặt ngươi; ngày và đêm ngươi hằng sợ hãi, khó liệu bảo tồn sự sống mình. 67 Bởi cớ sự kinh khủng đầy dẫy lòng ngươi, và bi cảnh mắt ngươi sẽ thấy, nên sớm mai ngươi sẽ nói: Chớ chi được chiều tối rồi! Chiều tối ngươi sẽ nói: Ước gì được sáng mai rồi! 68 Đức Giê-hô-va sẽ khiến ngươi đi tàu trở lại xứ Ê-díp-tô, bởi con đường mà trước ta đã nói: Ngươi không thấy nó nữa; ở đó, ngươi sẽ đem bán mình cho kẻ thù nghịch làm nô và tì, nhưng không có ai mua!
Chúa đã đặt 2 con đường cho họ chọn đó là phước và hoạ - Câu 13 – 14 Chúa nói họ vâng lời Chúa thì sẽ được ngồi đằng đầu và nơi cao tức là ngôi hoàng hậu và các nước khác ngồi đằng đuôi và thấp - Câu 43 – 44 Chúa cho biết nếu họ phạm tội thì dân ngoại bang sẽ ngồi đằng đầu và nơi cao tức là ngôi hoàng hậu và dân Y sơ ra ên sẽ xuống ngồi đằng đuôi và thấp. - Câu 49 – 55 Chúa nói họ sẽ bị dân ngoại tiêu diệt và trong lúc vây thành thì họ sẽ ăn thịt con cái mình (trong Ca thương có nói). - Trong Phục truyền 31 : 19 – 22 cũng có báo trước cho họ biết là khi vào đất đượm sữa và mật, họ sẽ ăn no nê và mập béo rồi họ sanh lòng phạm tội đi hầu việc thần tượng.
Xem Phục truyền 31 : 19 - 22 “19 Vậy, bây giờ, hãy chép bài ca nầy và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên; hãy để trong miệng họ, để bài ca nầy dùng làm chứng cho ta nghịch cùng dân Y-sơ-ra-ên. 20 Vì ta sẽ đưa dân nầy vào xứ, ta đã thề hứa cùng tổ phụ chúng nó; tức là xứ đượm sữa và mật; chúng nó sẽ ăn no nê và mập béo; đoạn, trở đi hầu việc các thần khác, khinh dể ta, và bội giao ước của ta. 21 Khi tai vạ nhiều và sự gian truân đã xông hãm dân nầy, thì bấy giờ, bài ca nầy sẽ rền lên làm chứng nghịch cùng nó, vì miệng của dòng dõi nó sẽ không quên. Vả, ta biết những ý tưởng của nó đã kết nên ngày nay, trước khi đưa nó vào xứ mà ta đã thề ban cho. 22 Trong ngày đó, Môi-se chép bài ca nầy và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên.”
- Đến đời vua Ê xê chia cai trị nước Giu đa (Giê ru sa lem) thì ông bị bịnh và Chúa đã chữa lành cho ông. Trong lúc vui mừng thì có sứ thần của vua Ba by lôn đến đưa thơ và dâng lễ vật, thì vua Ê xê chia bèn dẫn cho họ coi hết những cung điện nơi chứa những của qúy báu từ đời tổ tiên của họ đã chứa trong kho sẽ được dời sang hết tại Ba by lôn - Từ tổ tiên của họ đã chứa đó bắt đầu từ đời vua Đa vít để dành sẵn mọi của quí để cho con mình là vua Sa lô môn để xây đền thờ Chúa và cung điện cùng mọi sự đẹp đẽ trọn vẹn của nước Y sơ ra ên.
Xem Ê sai 39 : 1 - 8 1 Trong lúc đó, vua Ba-by-lôn, là Mê-rô-đác-Ba-la-đan, con vua Ba-la-đan, sai đưa thơ và lễ vật dâng Ê-xê-chia; vì nghe người đau và được lành. 2 Ê-xê-chia vui mừng vì các sứ thần, thì cho xem trong cung điện, nơi để những của quí, như bạc vàng, thuốc thơm, dầu báu, cùng kho khí giới, và mọi đồ trong phủ khố mình. Phàm vật chi trong cung và trong cả nước mình, chẳng có tí gì là Ê-xê-chia chẳng cho các sứ thần xem đến. 3 Đấng tiên tri Ê-sai bèn đến chầu vua Ê-xê-chia, và hỏi rằng: Các người đó nói chi, và từ đâu đến thăm vua? Ê-xê-chia đáp rằng: Họ đến từ phương xa, tức là từ nước Ba-by-lôn. 4 Ê-sai tiếp rằng: Họ đã xem gì trong cung vua? Ê-xê-chia đáp rằng: Họ đã xem hết thảy mọi vật ở trong cung ta; chẳng có vật gì trong phủ khố ta mà ta chẳng chỉ cho họ. 5 Ê-sai bèn tâu cùng Ê-xê-chia rằng: Xin nghe lời Đức Giê-hô-va vạn quân phán: 6 Nầy, ngày đến, là khi mọi vật trong cung ngươi, mọi vật mà tổ tiên ngươi đã chứa trong kho cho đến ngày nay, sẽ dời sang Ba-by-lôn, chẳng còn tí nào hết, Đức Giê-hô-va phán vậy. 7 Các con trai ngươi, con cháu ra từ ngươi, sanh bởi ngươi, cũng có kẻ sẽ bị bắt để làm quan hoạn trong cung vua Ba-by-lôn. 8 Ê-xê-chia đáp lại cùng Ê-sai rằng: Lời của Đức Giê-hô-va mà ông vừa thuật cho ta nghe đó là tốt lắm! Lại rằng: Vì trong ngày ta còn sống, sẽ được bình yên và lẽ thật. Xem II Các vua 20 : 20 – 19 “12 Trong lúc đó, Bê-rô-đác-Ba-la-đan, con trai Ba-la-đan, vua Ba-by-lôn, gởi thơ và lễ vật cho Ê-xê-chia; vì người đã hay rằng Ê-xê-chia đau. 13 Ê-xê-chia nghe lời các sứ giả tâu, thì vui mừng, bèn dẫn chúng viếng đền, là nơi chứa các vật quí, bạc, vàng, thuốc thơm, dầu quí, lại cho xem trại cơ khí, và mọi vật trong kho tàng mình. Chẳng có chi trong đền hoặc trong nước mà Ê-xê-chia không cho chúng xem thấy. 14 Tiên tri Ê-sai bèn đi đến vua Ê-xê-chia, và hỏi người rằng: Các người đó nói chi và ở xứ nào đến? Ê-xê-chia đáp: Chúng đến từ xứ xa, từ Ba-by-lôn. 15 Ê-sai tiếp: Vua cho chúng xem chi trong đền của vua? Ê-xê-chia đáp: Chúng có thấy mọi vật ở trong đền ta. Chẳng gì trong các kho tàng ta mà ta chẳng chỉ cho chúng xem. 16 Ê-sai bèn nói với Ê-xê-chia rằng: Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: 17 Thì giờ sẽ đến khi mọi vật ở trong đền vua, mọi vật mà các tổ phụ vua đã chất chứa trong kho tàng cho đến ngày nay, đều sẽ bị đem qua Ba-by-lôn. Đức Giê-hô-va phán: Sẽ chẳng còn chi lại hết. 18 Lại, những đứa con trai của vua, do nơi vua sanh ra, sẽ bị bắt dẫn đi làm hoạn quan trong đền vua Ba-by-lôn. 19 Ê-xê-chia đáp với Ê-sai rằng: Lời của Đức Giê-hô-va mà người đã nói là thiện. Người tiếp: Ít nữa trong đời tôi sẽ có điều bình an và sự vững vàng chăng?”
Xem Ca thương 5 : 1 – 3 1 Hỡi Đức Giê-hô-va, xin nhớ sự đã giáng trên chúng tôi; Hãy đoái xem sự sỉ nhục chúng tôi! 2 Sản nghiệp chúng tôi đã sang tay dân ngoại, Nhà cửa thuộc về người giống khác. 3 Chúng tôi mất cha, phải mồ côi, Mẹ chúng tôi trở nên góa bụa.
- Và ứng nghiệm lời tiên tri báo trước, dân Y sơ ra ên đã phạm tội đầy dẫy trong đất nước của họ, đời sống thì băng hoại, thầy tế lễ, tiên tri, quan trưởng đều đòi của hối lộ, giảng dạy đều gian dối, nói tiên tri giả và cứ nói rằng họ sẽ được bình an vì là nước của Chúa và dân sự của Ngài. Nhưng sự thật thì không có bình an chi hết, cả đất đều ô uế, tội lỗi, dân sự thì bị hà hiếp.
Xem Ê sai 1 : 1 – 4 1 Về đời Ô-xia, Giô-tham, A-cha và Ê-xê-chia, là các vua nước Giu-đa, thì Ê-sai, con trai A-mốt, có sự hiện thấy về nước Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem. 2 Hỡi các từng trời, hãy nghe; hỡi đất, hãy lắng tai; vì Đức Giê-hô-va có phán rằng: Ta đã nuôi nấng con cái, trưởng dưỡng chúng nó, song chúng nó dấy loạn nghịch cùng ta. 3 Bò biết chủ mình, lừa biết máng của chủ; song Y-sơ-ra-ên chẳng hiểu biết, dân ta chẳng suy nghĩ. 4 Ôi! Nước mắc tội, dân mang lỗi nặng nề, tông giống độc dữ, con cái làm bậy bạ kia! Chúng nó đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, khinh lờn Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, đã trở nên xa lạ và lui đi.
Xem Ê sai 1 : 13 – 17 13 Thôi, đừng dâng của lễ chay vô ích cho ta nữa! Ta gớm ghét mùi hương, ngày trăng mới, ngày sa-bát cùng sự rao nhóm hội; ta chẳng khứng chịu tội ác hội hiệp nơi lễ trọng thể. 14 Thật, lòng ta ghét những ngày trăng mới và kỳ lễ các ngươi, là nặng nề cho ta, ta lấy làm mệt mà gánh lấy. 15 Vậy nên, khi các ngươi giơ tay, thì ta che mắt khỏi các ngươi. Khi các ngươi cầu nguyện rườm rà, ta chẳng thèm nghe. Tay các ngươi đầy những máu. 16 Hãy rửa đi, hãy làm cho sạch! Hãy tránh những việc ác khỏi trước mắt ta. Đừng làm dữ nữa. 17 Hãy học làm lành, tìm kiếm sự công bình; hãy đỡ đần kẻ bị hà hiếp, làm công bình cho kẻ mồ côi, binh vực lẽ của người góa bụa.
Xem Ê sai 6 : 8 – 10 “8 Đoạn, tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? Tôi thưa rằng: Có tôi đây; xin hãy sai tôi. 9 Ngài phán: Đi đi! Nói với dân nầy rằng: Các ngươi hãy nghe, nhưng chẳng hiểu chi; hãy xem, nhưng chẳng thấy chi. 10 Hãy làm cho dân ấy béo lòng, nặng tai, nhắm mắt, e rằng mắt nó thấy được, tai nó nghe được, lòng nó hiểu được, nó trở lại và được chữa lành chăng!”
Xem Giê rê mi 8 : 8 – 12 “8 Sao các ngươi nói được rằng: Chúng ta là khôn sáng, có luật pháp Đức Giê-hô-va ở với chúng ta? Nhưng, nầy, ngọn bút giả dối của bọn thông giáo đã làm cho luật pháp ấy ra sự nói dối! 9 Những kẻ khôn sáng bị xấu hổ, sợ hãi, và bị bắt. Chúng nó đã bỏ lời của Đức Giê-hô-va; thì sự khôn ngoan nó là thể nào? 10 Vậy nên, ta sẽ ban vợ chúng nó cho kẻ khác, ruộng chúng nó cho chủ mới; vì từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, ai nấy đều tham lam; từ tiên tri cho đến thầy tế lễ, ai nấy đều làm sự gian dối. 11 Chúng nó rịt vít thương cho con gái dân ta cách sơ sài, nói rằng: Bình an, bình an! Mà không bình an chi hết. 12 Chúng nó làm ra sự gớm ghiếc, há lấy làm xấu hổ ư? Đã chẳng xấu hổ chút nào, lại cũng không thẹn đỏ mặt. Vậy nên chúng nó sẽ ngã với những người vấp ngã. Đến ngày thăm phạt, chúng nó sẽ bị lật đổ, Đức Giê-hô-va phán vậy.”
Xem Ca thương 2 : 13 - 14 “13 Ta làm chứng gì cho ngươi? Hỡi gái Giê-ru-sa-lem, ta kể thí dụ chi? Ta lấy gì sánh cùng ngươi đặng yên ủi ngươi, hỡi con gái đồng trinh Si-ôn? Sự phá hại ngươi to như biển: ai sửa sang lại được? 14 Các tiên tri ngươi xem cho ngươi những sự hiện thấy giả dối và ngu dại. Chẳng tỏ ra tội lỗi ngươi, đặng đem phu tù ngươi trở về. Chỉ thấy cho ngươi những lời tiên tri dối và sự làm cớ cho ngươi bị đuổi”
- Đất nước họ tội lỗi và thờ thần tượng, đời sống ô uế nên Chúa gọi họ là người đàn bà tà dâm hay là dâm phụ ( bỏ chồng của mình là Chúa theo nghĩa bóng)
Xem Ê xê chi ên 16 : 28 – 39 “28 Mầy cũng đã hành dâm cùng những người A-si-ri, vì mầy không no chán. Sau khi đã phạm tội tà dâm với chúng nó, mầy còn chưa no chán. 29 Vả, mầy đã thêm nhiều sự dâm dục với đất Ca-na-an cho đến Canh-đê, thế mà mầy cũng chưa no chán! 30 Chúa Giê-hô-va phán: Ôi! Lòng mầy luốt lát là dường nào, mầy phạm mọi việc đó, là việc của đàn bà tà dâm không biết xấu. 31 Khi mầy xây vòng khung mình nơi lối vào mỗi đường, dựng nơi cao trên mỗi đường phố, mầy không giống như đứa điếm đĩ, bởi mầy khinh tiền công; 32 mầy là đàn bà ngoại tình, tiếp người lạ thay vì chồng mình. 33 Hễ là đứa điếm đĩ thì được tiền công; nhưng mầy thì dâng lễ vật cho hết thảy tình nhân mầy; mầy đã hối lộ cho chúng, để chúng đến tư bề mà hành dâm với mầy. 34 Mầy đã làm trái với đàn bà khác trong sự tà dâm mầy, vì người ta không tìm mầy; và mầy trả tiền công, còn người ta không cho mầy chi hết. Ấy là mầy trái với những kẻ khác! 35 Vậy nên, hỡi kẻ điếm đĩ, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 36 Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì cớ mầy đã đổ ra sự ô uế, tỏ ra sự trần truồng bởi sự hành dâm với tình nhân mầy; và vì cớ mọi thần tượng gớm ghiếc của mầy, cũng vì cớ máu con cái mầy đã dâng cho chúng nó, 37 cho nên, nầy, ta sẽ nhóm hết thảy tình nhân mầy, tức những kẻ mầy ưa thích, mọi kẻ mầy yêu, mọi kẻ mầy ghét; ta sẽ nhóm chúng nó từ mọi bề đến nghịch cùng mầy; ta sẽ lột truồng mầy cho chúng nó, chúng nó sẽ thấy hết. 38 Ta sẽ đoán phạt mầy như đoán phạt đàn bà bội chồng và làm đổ máu; ta sẽ lấy máu của sự giận dữ và ghen tuông mà đổ trên mầy. 39 Ta cũng sẽ phó mầy vào tay chúng nó: chúng nó sẽ phá vòng khung và đổ các nơi cao của mầy; lột áo xống mầy, cất lấy đồ trang sức đẹp đẽ mầy, để mầy ở lỗ và truồng trần.”
- Bắt đầu đến đời vua Sê đê kia, Giê hô gia kim sau đó rồi bị vua Ba by lôn kéo quân đến vây thành Giê ru sa lem và phá dỡ hết đền thờ là những khí mạnh và bắt vua Giu đa, hoàng hậu, quan trưởng, thầy tế lễ cùng các thợ về nước Ba by lôn mà phục vụ (70 năm tại Ba by lôn)
Xem Giê rê mi 52 : 1 – 30 “1 Khi Sê-đê-kia lên làm vua, có hai mươi mốt tuổi; trị vì mười một năm tại thành Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi, người Líp-na. 2 Vua ấy làm điều dữ trước mắt Đức Giê-hô-va, như mọi việc vua Giê-hô-gia-kim đã làm. 3 Vì cớ Đức Giê-hô-va nổi giận, thì điều đó xảy ra trong Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, cho đến Ngài ném bỏ chúng nó khỏi trước mặt mình. Sê-đê-kia dấy loạn nghịch cùng vua Ba-by-lôn. 4 Ngày mồng mười, tháng mười, năm thứ chín đời vua Sê-đê-kia, thì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đem cả đạo binh mình đi đánh Giê-ru-sa-lem, đóng trại nghịch cùng nó, và chúng nó lập đồn vây lấy. 5 Thành bị vây mãi đến năm thứ mười một đời vua Sê-đê-kia. 6 Ngày mồng chín tháng tư, trong thành bị đói kém lắm, đến nỗi dân của đất nầy không có bánh nữa. 7 Vách thành bị phá vỡ, hết thảy những lính chiến bèn trốn ra khỏi thành lúc ban đêm, và do cửa ở giữa hai cái vách, gần vườn vua, mà đi ra; trong khi người Canh-đê đương vây thành, thì chúng nó chạy trốn hướng về A-ra-ba. 8 Nhưng đạo binh của người Canh-đê đuổi theo vua; khi đã đuổi kịp Sê-đê-kia tại đồng bằng Giê-ri-cô, thì quân vua chạy tan và bỏ vua lại. 9 Người Canh-đê bắt vua và dẫn đến cùng vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la, trong đất Ha-mát, nơi đó vua bị vua Ba-by-lôn xử đoán. 10 Vua Ba-by-lôn khiến giết các con trai của Sê-đê-kia trước mắt người, cũng khiến giết mọi quan trưởng Giu-đa tại Ríp-la. 11 Đoạn sai móc mắt Sê-đê-kia, lấy xiềng xiềng lại. Vua Ba-by-lôn đem Sê-đê-kia về Ba-by-lôn, khiến giam trong ngục cho đến ngày người chết. 12 Ngày mồng mười tháng năm, năm thứ mười chín về đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, thì Nê-bu-xa-ra-đan, quan đầu thị vệ, hầu vua Ba-by-lôn, vào thành Giê-ru-sa-lem. 13 Người sai đốt nhà Đức Giê-hô-va, cung vua, và hết thảy nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem. Mọi nhà lớn cũng đều phó cho lửa. 14 Rồi cả đạo binh của người Canh-đê thuộc quyền quan đầu thị vệ, phá hết thảy các vách thành chung quanh Giê-ru-sa-lem. 15 Những kẻ rất nghèo trong dân, với những kẻ sống sót đương ở trong thành, những kẻ đã đầu hàng vua Ba-by-lôn, và từ trong đám đông sót lại, thì Nê-bu-xa-ra-đan, quan đầu thị vệ, bắt đem đi làm phu tù hết thảy. 16 Nê-bu-xa-ra-đan, quan đầu thị vệ, chỉ để những người rất nghèo khó lại trong đất, đặng trồng vườn nho và làm ruộng. 17 Quân Canh-đê phá tan các cột đồng trong nhà Đức Giê-hô-va, cả đến đế tảng và biển đồng trong nhà Đức Giê-hô-va, rồi đem những đồng đó về Ba-by-lôn. 18 Những nồi, vá, kéo, chậu, thìa, cùng hết thảy khí mạnh bằng đồng về việc thờ phượng, chúng nó cũng đều đem đi nữa. 19 Quan đầu thị vệ lại khuân đi cả những chén, lư hương, chậu, nồi, chân đèn, thìa, và bát, phàm những đồ gì làm bằng vàng thì lấy vàng, đồ gì làm bằng bạc thì lấy bạc. 20 Còn như hai cột đồng, biển đồng, và mười hai con bò đồng dùng làm đế nó, mà vua Sa-lô-môn đã chế tạo cho nhà Đức Giê-hô-va, đồng của những đồ ấy, thì không thể cân được. 21 Mỗi cột cao mười tám thước, chu vi mười hai thước; trong tầm phổng, dầy bằng bốn ngón tay. 22 Trên đầu cột có chóp đồng, cao năm thước, chung quanh chóp có lưới và trái lựu, đều bằng đồng cả. Cột kia giống như cột nầy, cũng có lưới và trái lựu. 23 Bốn bề có chín mươi sáu trái lựu, và hết thảy những trái lựu đặt xung quanh lưới cộng là một trăm. 24 Quan đầu thị vệ bắt Sê-ra-gia, thầy tế lễ cả, và Sô-phô-ni, thầy tế lễ phó, cùng ba người giữ cửa đền. 25 Cũng bắt tại trong thành một hoạn quan coi lính chiến, bảy người cận thần của vua ở trong thành, một viên thơ ký của quan chánh lãnh binh, coi việc mộ dân trong đất, cùng sáu mươi người dân đất đó gặp tại trong thành. 26 Nê-bu-xa-ra-đan, quan đầu thị vệ, đem hết thảy những tù ấy về cho vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la. 27 Vua Ba-by-lôn sai đánh và giết họ tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Ấy vậy người Giu-đa bị điệu đi làm phu tù khỏi đất mình. 28 Nầy là dân mà Nê-bu-cát-nết-sa đã đem đi làm phu tù: Năm thứ bảy, ba ngàn hai mươi ba người Giu-đa. 29 Năm thứ mười tám đời Nê-bu-cát-nết-sa, từ thành Giê-ru-sa-lem bắt đi tám trăm ba mươi hai người. 30 Năm thứ hai mươi ba đời vua ấy, Nê-bu-xa-ra-đan, quan đầu thị vệ, đem đi bảy trăm bốn mươi lăm người Giu-đa. Hết thảy là bốn ngàn sáu trăm người.”
Xem Giê rê mi 29 :1 – 7 “1 Nầy là lời thơ của tiên tri Giê-rê-mi từ thành Giê-ru-sa-lem gởi cho các trưởng lão hiện còn bị phu tù, cùng cho các thầy tế lễ, các tiên tri, và cả dân mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã bắt từ Giê-ru-sa-lem điệu về Ba-by-lôn, 2 sau khi vua Giê-cô-nia, thái hậu, hoạn quan, các quan trưởng của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, thợ nghề và thợ rèn đã đi khỏi Giê-ru-sa-lem rồi. 3 Thơ nầy gởi bởi tay Ê-lê-a-sa, con trai Sa-phan, và Ghê-ma-ria, con trai Hinh-kia, là hai người mà Sê-đê-kia, vua Giu-đa, sai sang Ba-by-lôn, chầu Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn. Thơ như sau nầy: 4 Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán cùng những kẻ mà ta đã khiến bị bắt làm phu tù từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn như vầy: 5 Hãy xây nhà và ở; hãy trồng vườn và ăn trái; 6 hãy lấy vợ, đẻ con trai và con gái; hãy lấy vợ cho con trai, gả chồng cho con gái, hầu cho chúng nó đẻ ra con trai và con gái. Số các ngươi khá thêm nhiều ra ở đó và đừng kém đi. 7 Hãy tìm sự bình an cho thành mà ta đã khiến các ngươi bị đày đến làm phu tù, hãy vì nó cầu nguyện Đức Giê-hô-va; vì sự bình an các ngươi nhờ sự bình an của nó.”
- Nhưng chúng ta biết rằng trong lúc dân Y sơ ra ên bị đày đi làm phu tù thì một dân tộc mà có 2 số phận khác nhau
Xem Giê rê mi 24 : 1 – 10 “1 Đức Giê-hô-va tỏ cho tôi, nầy, có hai giỏ trái vả để trước đền thờ Đức Giê-hô-va. Ấy là sau khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã bắt Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, cùng các quan trưởng Giu-đa, với các thợ nghề và thợ rèn từ thành Giê-ru-sa-lem đem về nước Ba-by-lôn làm phu tù. 2 Một trong hai giỏ thì đựng những trái vả rất tốt, như trái vả đầu mùa; còn giỏ kia thì đựng trái xấu lắm, đến nỗi không có thể ăn được. 3 Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hỡi Giê-rê-mi, ngươi thấy gì? Tôi thưa: Thấy trái vả, những trái tốt thì rất tốt, còn những trái xấu thì rất xấu, xấu đến nỗi không thể ăn được. 4 Bấy giờ có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 5 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Như những trái vả tốt nầy, ta cũng sẽ xem những kẻ phu tù Giu-đa, mà ta đã sai từ nơi nầy đến trong đất người Canh-đê, cho chúng nó được ích. 6 Ta sẽ để con mắt ta trên chúng nó làm ích cho, và ta sẽ đem họ về trong xứ nầy, lập lên mà không phá đi nữa, trồng lại mà không nhổ đi nữa. 7 Ta sẽ ban cho chúng nó tấm lòng hay nhận biết ta là Đức Giê-hô-va. Chúng nó sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó; vì chúng nó sẽ hết lòng trở về cùng ta. 8 Còn như Sê-đê-kia, vua Giu-đa, các quan trưởng nó và dân sót lại của thành Giê-ru-sa-lem, là dân còn ở trong đất nầy, và những kẻ ở trong đất Ê-díp-tô, thì người ta làm cho những trái vả xấu quá ăn không được thể nào, ta cũng sẽ làm cho chúng nó thể ấy. 9 Ta sẽ phó chúng nó để bị ném đi ném lại giữa mọi nước thế gian cho chúng nó chịu khổ, chịu mắng nhiếc, xoi bói, cười chê, rủa sả, trong mọi xứ mà ta sẽ đuổi chúng nó đến. 10 Ta sẽ sai gươm dao, đói kém, ôn dịch giữa chúng nó, cho đến chừng chúng nó bị hủy diệt khỏi đất ta đã ban cho chúng nó cùng tổ phụ chúng nó.”
- Chúa cho Giê rê mi thấy 2 giỏ trái vả rất tốt và rất xấu chỉ về 2 số phận của dân Y sơ ra ên. 1. Giỏ trái vả rất xấu : chỉ về 1 dòng dõi bội nghịch phạm tội cùng Chúa cho nên Chúa đã ném họ ra khắp các nước ở thế gian, bị ném đi ném lại, khi họ di chuyển đến nơi nào thì Chúa sai 3 tai hoạ rượt đuổi theo họ đó là : gươm đao ( chiến tranh), ôn dịch, đói kém. 2. Giỏ trái vả rất tốt : chỉ về 1 dòng dõi thánh đồ thì Chúa đưa (sai ) họ sang tập trung tại đất nước Ba by lôn để phục vụ dân ngoại và làm chứng để truyền giảng cho dân ngoại và đất nước Ba by lôn là sự bình an để che chở cho họ
Xem Giê rê mi 29 : 4 – 7 “4 Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán cùng những kẻ mà ta đã khiến bị bắt làm phu tù từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn như vầy: 5 Hãy xây nhà và ở; hãy trồng vườn và ăn trái; 6 hãy lấy vợ, đẻ con trai và con gái; hãy lấy vợ cho con trai, gả chồng cho con gái, hầu cho chúng nó đẻ ra con trai và con gái. Số các ngươi khá thêm nhiều ra ở đó và đừng kém đi. 7 Hãy tìm sự bình an cho thành mà ta đã khiến các ngươi bị đày đến làm phu tù, hãy vì nó cầu nguyện Đức Giê-hô-va; vì sự bình an các ngươi nhờ sự bình an của nó.”
- Bắt đầu bằng câu chuyện của Đa ni ên ( và họ mang kiếp phu tù) và ứng nghiệm bài giảng của Môi se và lời tiên tri của Ê sai nói với vua Ê xê chia là dời hết mọi phước hạnh, ngôi hoàng hậu, đời sống thuộc linh thờ phượng, đời sống thuộc thể vật chất dư dật cho dân ngoại. - Trong Thi thiên 126 : “1 Khi Đức Giê-hô-va dẫn các phu tù của Si-ôn về, Thì chúng tôi khác nào kẻ nằm chiêm bao. 2 Bấy giờ miệng chúng tôi đầy sự vui cười, Lưỡi chúng tôi hát những bài mừng rỡ. Trong các dân ngoại người ta nói rằng: Đức Giê-hô-va đã làm cho họ những việc lớn. 3 Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng tôi những việc lớn; Nhân đó chúng tôi vui mừng. 4 Hỡi Đức Giê-hô-va, xin dẫn phu tù chúng tôi về, Như các suối miền nam chảy nước lại. 5 Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, Sẽ gặt hái cách vui mừng. 6 Người nào vừa đi vừa khóc đem giống ra rải, Ắt sẽ trở về cách vui mừng, mang bó lúa mình.”
Có nói về kiếp phu tù của dân Do thái và kể về câu chuyện những người đi gieo giống vừa đi vừa khóc và mang bó lúa mình về, tức là Chúa dùng Thi thiên này để minh oan cho 1 dòng dõi thánh đồ của Chúa phải bị oan ức khi phải bị mang tiếng là phạm tội cùng Chúa. Nhưng họ chính là dòng dõi Đa ni ên, 3 bạn trẻ Hê bơ rơ, thời kỳ các sứ đồ trong công vụ của họ phải đi khắp thế gian mà giảng tin lành Xem Ê phê sô 3 : 1 “1 Ấy bởi điều đó, mà tôi, Phao-lô, vì anh em là người ngoại mà làm kẻ tù của Đức Chúa Jêsus Christ”
Sứ đồ Phao lô là người phu tù trong Đấng Christ
Xem I Cô rinh tô 3 : 9 – 10 “9 Vả, chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời cày, nhà của Đức Chúa Trời xây. 10 Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi, tôi đã lập nền như một tay thợ khéo, mà có kẻ khác cất lên trên; nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó.
Họ là những thợ xây đền thờ
III. Giai đoạn 3 là thời kỳ số phận thánh đồ sang Ba by lôn để làm phu tù phục vụ cho đất nước Ba by lôn - Nguyên văn trong tiếng Hê bơ rơ của dân Y sơ ra ên thì họ gọi dân và nước Ba by lôn là Ba bên ( nghĩa là lộn xộn ngôn ngữ và giống dân) cũng phù hợp với quá khứ lịch sử về câu chuyện Ba bên tại đất Si nê a năm xưa sau thời kỳ nước lụt. - Nhưng đối với dân ngoại thì họ dùng từ ngữ tiếng Hy lạp gọi là Ba by lôn - Chúng ta biết rằng số phận của giỏ trái vả rất tốt ( chỉ về thánh đồ) trong đó có nhiều tiên tri được ở đó như Đa ni ên, Ê xê chi ên, 3 người bạn trẻ Hê bơ rơ và rất nhiều người khác … - Bấy giờ đền thờ được vua Ba by lôn ( tức là Nê bu cát nết sa) phá dỡ hết tại nước Giu đa và đem về để trong kho của mình. Khi đền thờ đó được đem đi tức là những sức mạnh, uy quyền, phước hạnh sẽ được mang theo vì trong II Sử ký 3 : 17 có nói đến 2 trụ đồng đó là Gia kin và Bô ách tức là sức lực và sự kiên lập của Chúa được đi theo
Xem II Sử ký 3 : 17 , và cây bên tả là Bô-ách [† ]” Gia kin nghĩa là Chúa sẽ kiên lập và Bô ách nghĩa là tại đền ấy có sức lực
Xem Thi thiên 78 : 60 – 61 “ 60 Đến nỗi bỏ đền tạm tại Si-lô, Tức là trại Ngài đã dựng giữa loài người; 61 Phó sức lực Ngài bị dẫn tù, Và nộp vinh hiển Ngài vào tay cừu địch.”
- Và câu chuyện tiên tri Đa ni ên và 3 người trai trẻ Hê bơ rơ tại đất Ba by lôn họ đã làm nhân chứng cho Đức Chúa Trời ( tức là truyền giảng cho dân ngoại trong thời kỳ luật pháp cựu ước ). Song song đó Chúa cho vua Ba by lôn có 2 điềm chiêm bao để tôi tớ Chúa giải nghĩa. Chiêm bao thứ I : thấy 1 pho tượng rực rỡ và giải nghĩa ra là chỉ về thời kỳ dân ngoại và khởi đầu là nước Ba by lôn của vua Nê bu cát nết sa. Sau đó vua Ba by lôn cho dựng pho tượng và kêu mọi dân, mọi nước, mọi thứ tiếng đều phải sấp mình thời lạy pho tượng. Chiêm bao thứ II : thấy 1 cây cao cách lạ thường ngọn nó chấm đến trời, giải nghĩa ra là nước vua sẽ lớn mạnh, quyền thế, sự cao cả tăng thêm và thấu đến trời, trái thì sai có đủ cho mọi loài ăn ( chỉ về đất nước đó lớn, mạnh, giàu có và dân tất cả các nước trên thế gian đều đến đó để hưởng) - Trong thời điểm vua Ba by lôn được Chúa chọn làm đầy tớ của Ngài và Chúa sử dụng ông vua làm cây búa để chinh phạt tất cả các nước, nếu nước nào, vua nào mà không phục vua Ba by lôn thì Chúa sai 3 tai hoạ đến để diệt đó là : gươm đao, ôn dịch, đói kém
Xem Giê rê mi 27 : 6 – 8 “ 6 Bây giờ, ta đã phó mọi đất nầy trong tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đầy tớ ta; ta cũng ban những thú vật ngoài đồng cho người đặng giúp việc người nữa. 7 Mọi nước sẽ phải phục người, con người, cháu người, cho đến chừng nào phiên của nước nó cũng đến; bấy giờ nhiều nước và các vua lớn sẽ bắt nó phục. 8 Nếu dân nào nước nào không hầu việc người, tức Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, và không tròng cổ mình vào ách của vua Ba-by-lôn, thì Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ dùng gươm dao, đói kém, dịch lệ mà phạt dân ấy, cho đến chừng nào ta đã diệt chúng nó đi bởi tay vua Nê-bu-cát-nết-sa”
- Cho nên khi số phận dân thánh này sang đất Ba by lôn phục vụ để giúp cho dân ngoại xây 1 cái đền thờ để biết cách nhìn biết ĐCT và biết thờ phượng Ngài ( cho nên thời gian này gọi là thời kỳ các dân ngoại ) - Và thời điểm này nước Ba by lôn sẽ hưởng tất cả mọi địa vị, phước hạnh, sung sướng vì danh của Chúa đặt tại đất Ba by lôn. 1. Ngôi chủ mẫu các nước tức là ngồi ngôi hoàng hậu Xem Ê sai 47 : 5 – 7 “ 5 Hỡi con gái của người Canh-đê, hãy ngồi làm thinh, trốn trong nơi tối tăm! Vì từ nay về sau, ngươi sẽ không được gọi là chủ mẫu của các nước nữa. 6 Ta đã nổi giận nghịch cùng dân ta, làm ô uế sản nghiệp ta, và phó hết chúng nó trong tay ngươi. Nhưng ngươi chẳng từng dùng sự thương xót đối với chúng nó; đã tra ách nặng trên người già cả. 7 Ngươi nói rằng: Ta sẽ làm chủ mẫu luôn. Ngươi chẳng để những sự ấy vào lòng, và chẳng nghĩ đến cuối cùng sự đó.
2. Sự vinh hiển các nước, sự hoa mĩ của lòng kiêu ngạo Xem E sai 13 : 19 “ 19 Ba-by-lôn, là sự vinh hiển các nước, sự hoa mĩ của lòng kiêu ngạo người Canh đê, sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ mà Đức Chúa Trời đã lật đổ.”
3. Thành mà cả thiên hạ đều ngợi khen Xem Giê rê mi 51 : 41 “41 Sê-sác đã bị chiếm lấy, và thành mà cả thiên hạ đều ngợi khen đã bị bắt là thể nào! Ba-by-lôn đã trở nên sự hoang vu giữa các nước là thể nào!”
4. Đất thương mại và thành của buôn bán Xem Ê xê chi ên 17 : 4 “4 Nó bẻ nhành non rất cao, đem đến trong một đất thương mại, và để trong một thành của người buôn bán.”
5. Người sung sướng ở yên ổn Xem Ê sai 47 : 8 8 Hỡi người sung sướng ở yên ổn, bụng bảo dạ rằng: Ta đây, ngoài ta chẳng còn ai! Ta sẽ chẳng góa bụa, chẳng biết mất con cái là gì; nầy, bây giờ hãy nghe đây.
6. Sự quá xa hoa của nó Xem Khải huyền 18 : 3 3 vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó.
7. Đất tốt ( đượm sữa và mật ) đem hạt giống từ Giê ru sa lem về trồng trong đất của mình nên thành cây nho sai trái Xem Ê xê chi ên 17 : 5 “ 5 Sau rồi nó lấy giống của đất ấy đem trồng nơi đất tốt; đặt gần nơi nhiều nước, và trồng như cây liễu.”
8. Các nhà buôn trên đất đều đem mọi thứ hàng hoá quý giá của mình mà đem đến phục vụ cho nước Ba by lôn
Xem Khải huyền 18 : 11 – 19 “ 11 Các nhà buôn trên đất cũng vì nó khóc lóc rầu rĩ, vì không ai mua hàng hóa mình nữa: 12 Hàng hóa là vàng, bạc, ngọc, châu, vải gai mịn, màu tía, lụa, màu điều; các hạng gỗ thơm; các thức đồ bằng ngà voi, bằng gỗ quí, bằng đồng, bằng sắt, bằng đá hoa; 13 nhục quế, sa nhân, hương, dầu thơm, nhũ hương, rượu, dầu, bột mì mịn, lúa mì, bò, cừu, ngựa, xe, tôi mọi và linh hồn người ta nữa. 14 Các thứ trái mà lòng ngươi mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa. 15 Các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu, mà rằng: 16 Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết! 17 Phàm những lái tàu, những người đi biển, và thủy thủ, những kẻ buôn bán trên mặt biển, đều đứng cách xa; 18 khi thấy khói của sự cháy thành thì cùng kêu lên rằng: Có thành nào đã được như thành lớn nầy ư? 19 Chúng lấy bụi rắc lên đầu mình, thương khóc than vãn, mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn nầy đã lấy sự giàu có mình làm giàu cho mọi kẻ có tàu trên biển, mà trong một giờ, đã hóa thành một chỗ hoang vu!”
9. Dân trong nước Ba by lôn suốt ngày chỉ lo ăn uống vui chơi, ca hát thờ phượng Chúa, ở bình yên không lo lắng gì
Xem Khải huyền 18 : 22 – 23 “22 Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ gảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Ở đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối xay cũng không nghe nữa. 23 Ánh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa, và người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới, bởi vì các nhà buôn của ngươi đều là kẻ tôn trọng trên đất, bởi vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối. 24 Ấy chính trong thành nầy, mà đã tìm thấy huyết các đấng tiên tri, các thánh đồ, và hết thảy những kẻ đã bị giết trong thế gian”.
Họ lo ca hát chỉ nghe tiếng thổi sáo, gãy đàn cầm, kẻ đàn cầm, kẻ đánh nhạc, thổi kèn và nói chuyện về chàng rể mới và dâu mới, tiếng cối xay, ánh sáng của đèn.
v Nói tóm lại : Khi đất nước Y sơ ra ên bị Chúa sửa phạt hoang vu và có 1 dòng dõi thánh đồ được Chúa đưa đến nước Ba by lôn để phục vụ cho dân ngoại và đến phiên dân ngoại hưởng hết mọi phước hạnh của dân Y sơ ra ên. Nhưng rồi sau đó dân ngoại (tại Ba by lôn ) cũng phạm tội giống như dân Y sơ ra ên, họ đem toàn là thần tượng vào trong nước của họ, họ tin vào bói toán, xem trời, xem sao
Xem Ê sai 47 : 13 “13 Ngươi đã nhọc sức vì cớ nhiều mưu chước. Vậy những kẻ hỏi trời, xem sao, xem trăng mới mà đoán việc ngày sau, bây giờ hãy đứng lên và cứu ngươi cho khỏi những sự xảy đến trên ngươi.”
Xem Ê sai 46 : 1 -2, 5 -7 “1 Bên cúi xuống; Nê-bô khom mình; tượng nó chở trên loài thú, trên súc vật. Những vật mà các ngươi vốn thường khiêng, đè nặng quá, làm cho súc vật mệt nhọc. 2 Chúng nó cúi xuống, cùng nhau khom mình; đã chẳng cứu được gánh nặng của mình, và chính mình lại bị bắt làm phu tù.” “5 Các ngươi so sánh ta cùng ai, và coi ta bằng ai? Các ngươi lấy ai đọ với ta, đặng chúng ta được giống nhau? 6 Kìa, họ móc vàng trong túi ra, và lấy cân mà cân bạc, thuê thợ vàng dùng mà đúc một thần, rồi cúi mình thờ lạy. 7 Họ vác tượng ấy trên vai, đem đi, đặt vào chỗ nó: thần cứ đứng đó mà không dời khỏi chỗ nó nữa. Nếu có ai kêu cầu, thì thần chẳng trả lời, và không cứu khỏi nạn được.”
Đời sống của dân Ba by lôn thì buông mình trong tội lỗi, dâm dục sắc lạ ( mà Chúa huỷ diệt giống như thành Sô đôm và Gô mô rơ )
Xem Ê sai 13 : 19 19 Ba-by-lôn, là sự vinh hiển các nước, sự hoa mĩ của lòng kiêu ngạo người Canh đê, sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ mà Đức Chúa Trời đã lật đổ.”
Họ được ngồi chủ mẫu, nữ vương ngồi trên ngai mình
Xem Ê sai 47 : 5 – 7 “5 Hỡi con gái của người Canh-đê, hãy ngồi làm thinh, trốn trong nơi tối tăm! Vì từ nay về sau, ngươi sẽ không được gọi là chủ mẫu của các nước nữa. 6 Ta đã nổi giận nghịch cùng dân ta, làm ô uế sản nghiệp ta, và phó hết chúng nó trong tay ngươi. Nhưng ngươi chẳng từng dùng sự thương xót đối với chúng nó; đã tra ách nặng trên người già cả. 7 Ngươi nói rằng: Ta sẽ làm chủ mẫu luôn. Ngươi chẳng để những sự ấy vào lòng, và chẳng nghĩ đến cuối cùng sự đó.”
Xem Khải huyền 18 : 7 “7 Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ”
tức là ngôi hoàng hậu mà Chúa đã ban cho dân Y sơ ra ên vì trong bản Kinh thánh tiếng Anh ngữ chỉ sử dụng có 1 chữ mà thôi đó là chữ Queen
Xem Ê xê chi ên 16 : 13 “13 Như vậy, mầy được trang sức bằng vàng bằng bạc; áo xống của mầy bằng vải gai mịn, bằng hàng lụa, bằng đồ thêu; mầy nuôi mình bằng bột mì lọc, bằng mật ong và bằng dầu. Mầy đã trở nên cực đẹp, và thạnh vượng đến nỗi được ngôi hoàng hậu.”
Xem Ê sai 47 : 7 “ 7 Ngươi nói rằng: Ta sẽ làm chủ mẫu luôn. Ngươi chẳng để những sự ấy vào lòng, và chẳng nghĩ đến cuối cùng sự đó.”
Xem Khải huyền 18 : 7 “7 Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ.
Rồi sau đó dân Ba by lôn cũng phạm tội đầy dẫy cho nên Chúa gọi nó là con đại dâm phụ hay là đàn bà tà dâm bỏ chồng của mình là Chúa
Xem Khải huyền 17 :1 1 Bấy giờ trong bảy vị thiên sứ cầm bảy bát ấy, có một vị đến gần mà nói với tôi rằng: Lại đây, ta sẽ chỉ cho ngươi sự phán xét về con đại dâm phụ, nó ngồi trên các dòng nước lớn kia.
Xem Ê xê chi ên 16 : 30, 32, 38 “30 Chúa Giê-hô-va phán: Ôi! Lòng mầy luốt lát là dường nào, mầy phạm mọi việc đó, là việc của đàn bà tà dâm không biết xấu. 32 mầy là đàn bà ngoại tình, tiếp người lạ thay vì chồng mình. 38 Ta sẽ đoán phạt mầy như đoán phạt đàn bà bội chồng và làm đổ máu; ta sẽ lấy máu của sự giận dữ và ghen tuông mà đổ trên mầy.”
và tại sao Chúa gọi nó là đại dâm phụ vì nó là đại diện cho cả thế giới dân ngoại ( nó là đông và lớn nên gọi là đại dâm phụ) - Bấy qua sự soi dẫn của Thánh kinh cho chúng ta thấy rằng Chúa đã bày tỏ 2 thần tánh của Ngài là yêu thương và công bình. Hễ Chúa yêu dân Do Thái thể nào thì Chúa cũng yêu dân ngoại thể ấy, Chúa phạt dân Do Thái thể nào khi họ phạm tội thì Chúa cũng phạt dân ngoại thể ấy khi họ phạm tội giống dân Do Thái
Xem Rô ma 2 : 9 -11 “9 Sự hoạn nạn khốn khó giáng cho mọi người làm ác, trước cho người Giu-đa, sau cho người Gờ-réc; 10 nhưng vinh hiển, tôn trọng, cùng sự bình an cho mọi người làm lành, trước cho người Giu-đa, sau cho người Gờ-réc. 11 Vì trước mặt Đức Chúa Trời, chẳng vị nể ai đâu.”
v Cuối cùng để có câu kết luận cho trương trình xuyên suốt của Đức Chúa Trời qua các thời đại chúng ta sẽ thấy theo một lịch trình sau đây : xem hình ảnh chỉ dẫn của Kinh thánh ( lời Chúa)
Cựu ước
v Dân Y sơ ra ên 1. Đền thờ ( bằng vật liệu, theo luật pháp) 2. Dân sự phạm tội phải đi phu tù 3. Dân sự hưởng phước hạnh địa vị
Cựu ước
v Dân Ba by lôn ( dân ngoại) 1. Mang đền thờ về đất mình 2. Đoàn phu tù được mang sang dân ngoại để phục vụ 3. Chuyển mọi phứớc hạnh, địa vị cho dân ngoại hưởng
Tân ước 1. Chúa Jê sus chính là đền thờ 2. Dân sự tiếp tục đi phu tù tại đất dân ngoại thời gian là các kỳ dân ngoại Lu ca 21 : 24 24 Họ sẽ bị ngã dưới lưỡi gươm, sẽ bị đem đi làm phu tù giữa các dân ngoại, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp, cho đến chừng nào các kỳ dân ngoại được trọn. 3. Dòng dõi các con cháu của sứ đồ, thánh đồ ra đi rao giảng khắp thế gian và họ chính là đền thờ của Chúa vì Kinh thánh và lời chứng là chính của dân tộc Hê bơ rơ viết
Tân ước 1.Tập trung tại đất Ba by lôn để xây dựng cho dân ngoại 1 cái đền thờ thuộc linh Khải huyền 18 2. Hưởng hết mọi phước hạnh của dân Do Thái khi họ bị đi phu tù gần 2 ngàn năm 3. Ở thời kỳ cuối cùng họ tập trung tại đất Ba by lôn và giúp cho nước dân ngoại qua sự khôn ngoan của họ mà đem đến phước hạnh cho dân Ba by lôn ( cả Khải huyền 18 có nói ) Xem Mi chê 4 : 10 10 Hỡi con gái Si-ôn, hãy đau đớn khó nhọc để đẻ ra như đàn bà đẻ! Vì ngươi sẽ đi ra khỏi thành và ở trong đồng ruộng, và ngươi sẽ đến Ba-by-lôn. Nhưng ở đó, ngươi sẽ được giải cứu; ấy là tại đó mà Đức Giê-hô-va sẽ chuộc ngươi ra khỏi tay kẻ thù nghịch ngươi.
Kết thúc : Câu chuyện Cựu ước và Tân ước đều giống nhau . Có 3 giai đoạn :
1. Đền thờ ( luật pháp ) qua thời ân điển ( Chúa Jêsus là đền thờ)
2. Dân Y sơ ra ên đi phu tù 70 năm Tân ước dân Y sơ ra ên tiếp tục đi phục vụ tại đất Ba by lôn phu tù đợt 2 và thời gian kéo dài là các kỳ dân ngoại.Lu ca 21 : 24
3
. Địa điểm Cựu ước họ tập trung tại Ba by lôn phục vụ Ba by lôn, và đất Ba by lôn cũ là đồng bằng xứ Si nê a ( nằm cạnh sông Ơ phơ rát và sông Ty rơ) Xem Giê rê mi 51 : 60 – 64 “60 Giê-rê-mi chép vào sách hết thảy các tai nạn phải đến cho Ba-by-lôn, tức mọi lời đã được chép về Ba-by-lôn. 61 Giê-rê-mi nói với Sê-ra-gia rằng: Khi ngươi đã đến Ba-by-lôn, khá lo đọc hết những lời nầy. 62 Rồi ngươi khá nói: Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã phán rằng sẽ hủy diệt thành nầy, và nơi nầy sẽ không ai ở nữa, từ loài người cho chí loài vật cũng không, song sẽ nên một nơi hoang vu đời đời. 63 Khi ngươi đã đọc sách nầy xong, thì khá cột vào sách một cục đá, mà ném xuống giữa sông Ơ-phơ-rát, 64 và khá nói rằng: Ba-by-lôn sẽ chìm xuống như vậy! Nó sẽ chẳng còn chỗi dậy nữa vì tai nạn mà ta sẽ giáng trên nó, chúng nó sẽ mỏi mệt. Lời của Giê-rê-mi đến đây”.
Thời kỳ Tân ước giai đoạn cuối cùng họ được tập trung tại đất Ba by lôn và đất Ba by lôn thời kỳ cuối cùng nó được gọi là đồng vắng và vị trí của nó nằm tại gần biển Xem Ê sai 21 : 1 “1 Gánh nặng về đồng vắng ở gần biển. Nó đến từ đồng vắng, là đất đáng kinh khiếp, khác nào cơn gió lốc vụt qua trong phương nam” Xem Khải huyền 17 : 3 ”3 Tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đem tôi tới nơi đồng vắng; thấy một người đàn bà ngồi trên lưng một con thú sắc đỏ sậm, mình mang đầy những tên sự phạm thượng, có bảy đầu và mười sừng.” Xem Mi chê 4 : 10 “10 Hỡi con gái Si-ôn, hãy đau đớn khó nhọc để đẻ ra như đàn bà đẻ! Vì ngươi sẽ đi ra khỏi thành và ở trong đồng ruộng, và ngươi sẽ đến Ba-by-lôn. Nhưng ở đó, ngươi sẽ được giải cứu; ấy là tại đó mà Đức Giê-hô-va sẽ chuộc ngươi ra khỏi tay kẻ thù nghịch ngươi
Cho nên xuyên suốt Cựu ước và Tân ước đều liên quan giống nhau - Có 2 đền thờ ( luật pháp và ân điển ) - Có 2 thời kỳ làm kiếp phu tù ( 70 năm và các kỳ dân ngoại) - Có 2 Ba by lôn lớn ( Cựu ước là đồng bằng xứ Si nê a nằm gần sông Ơ phơ rát và Tân ước là đồng vắng nằm gần biển )
Trong sách Khải huyền 17 : 5 “5 Trên trán nó có ghi một tên, là: SỰ MẦU NHIỆM, BA-BY-LÔN LỚN, LÀ MẸ KẺ TÀ DÂM VÀ SỰ ĐÁNG GỚM GHÊ TRONG THẾ GIAN .”
1. SỰ MẦU NHIỆM tức là sự kín giấu trãi qua các đời chưa được tiết lộ ra và chờ đến thời kỳ ứng nghiệm Chúa mới cho giải nghĩa
Xem Rô ma 16 : 25b “theo sự tỏ ra về lẽ mầu nhiệm, là lẽ đã giấu kín từ mọi đời trước,”
Xem I Cô rinh tô 2 : 7 – 8 “7 Chúng tôi giảng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, là sự mầu nhiệm kín giấu, mà từ trước các đời, Đức Chúa Trời đã định sẵn cho sự vinh hiển chúng ta. 8 Trong những người cai quản đời nầy chẳng ai từng biết sự đó; bởi chưng, nếu đã biết thì họ chẳng đóng đinh Chúa vinh hiển trên cây thập tự đâu” Xem Rô ma 11 : 25 – 26 25 Vả, hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết sự mầu nhiệm nầy, e anh em khoe mình khôn ngoan chăng: Ấy là một phần dân Y-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, cho đến chừng nào số dân ngoại nhập vào được đầy đủ; 26 vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, Cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp;
Xem Ha ba cúc 2 : 2 – 3 “2 Đức Giê-hô-va đáp lại cùng ta mà rằng: Ngươi khá chép lấy sự hiện thấy, và rõ rệt nó ra trên bảng, hầu cho người đương chạy đọc được. 3 Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhứt định, sau cùng nó sẽ kíp đến, không phỉnh dối đâu; nếu nó chậm trễ, ngươi hãy đợi; bởi nó chắc sẽ đến, không chậm trễ.”
2. BA BY LÔN LỚN : tức là 2 câu chuyện Cựu ước và Tân ước đều mang một nội dung giống nhau chỉ lấy từ câu chuyện của vua Nê bu cát nết sa Vua Nê bu cát nết sa nói rằng : Đây chẳng phải là Ba by lôn lớn mà ta đã dựng, và chử lớn này chỉ xuất hiện duy nhất trong toàn bộ Kinh thánh cựu ước mà thôi.
Xem Đa ni ên 4 : 30 30 thì cất tiếng mà nói rằng: Đây chẳng phải là Ba-by-lôn lớn mà ta đã dựng, bởi quyền cao cả ta, để làm đế đô ta, và làm sự vinh hiển oai nghi của ta sao?
Như vậy Ba by lôn lớn ở Cựu ước chính là nội dung cho câu chuyện Ba by lôn lớn ở Tân ước.
3. MẸ KẺ TÀ DÂM VÀ SỰ ĐÁNG GỚM GHÊ TRONG THẾ GIAN :tức là nó đại diện cho thế giới dân ngoại ngồi ngôi nữ vương ( Khải huyền 18 : 7) tức là ngôi hoàng hậu và nó về sau đời sống băng hoại, cầm cái chén vàng phước hạnh của Chúa và nó làm cho cái chén vàng đó trở nên đầy những đồ gớm ghiếc và dâm uế. Nó đã trở nên 1 hoàng hậu dâm loạn thuộc linh lẫn thuộc thể và làm cho cả thế gian đều bắt chước theo nó ( Khải huyền 19 : 2)
Xem Khải huyền 18 : 7 “7 Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ”
Xem Khải huyền 19 : 2 “2 Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy điều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra.”
Những đặc điểm chính mà Ba by lôn lớn có là : 1. Vị trí địa lý : Đồng vắng ở gần biển Xem Ê sai 21 : 1 “1 Gánh nặng về đồng vắng ở gần biển. Nó đến từ đồng vắng, là đất đáng kinh khiếp, khác nào cơn gió lốc vụt qua trong phương nam”
Xem Khải huyền 17 : 3 “3 Tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đem tôi tới nơi đồng vắng; thấy một người đàn bà ngồi trên lưng một con thú sắc đỏ sậm, mình mang đầy những tên sự phạm thượng, có bảy đầu và mười sừng.”
2. Có 1 pho tượng được dựng nên và mọi đều thờ ( theo tâm linh ) ( khải tượng) 3. Đất nước vụt lớn mạnh giàu có 1 cách lạ thường ( khải tượng) 4. Ngồi ngôi hoàng hậu làm chủ mẫu các nước ( Khải huyền 18 : 7) 5. Có 1 số phận dân Do Thái ở trong đó và dự phần vào chính trị Xem Đa ni ên 2 : 48 – 49 “48 Vua bèn tôn Đa-ni-ên lên sang trọng và ban cho người nhiều lễ vật trọng. Vua lập người cai trị cả tỉnh Ba-by-lôn, và làm đầu các quan cai những bác sĩ của Ba-by-lôn. 49 Đa-ni-ên cầu xin vua, thì vua lập Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô cùng cai trị tỉnh Ba-by-lôn, còn Đa-ni-ên thì chầu nơi cửa vua.”
Phần II Ba by lôn là tiếng Hy lạp, trong tiếng Hê bơ rơ của Cựu ước tên chỉ là Ba bên, nghĩa là lộn xộn và tên này hay làm hình bóng chỉ về ý nghĩa đó ( theo Thánh kinh tự điển) I. Nguồn gốc của Satan Trong khi Chúa dựng trời đất thì có các Sao mai và các thiên sứ đồng hoà thanh hát ca ngợi Chúa ( các sao mai)
Xem Gióp 38 : 4 – 7 4 Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu? Nếu ngươi thông sáng, hãy tỏ bày đi. 5 Ai đã định độ lượng nó, Và giăng dây mực trên nó, ngươi có biết chăng? 6 Nền nó đặt trên chi? Ai có trồng hòn đá góc của nó? 7 Trong khi ấy các sao mai đồng hát hòa nhau, Và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng.
II. Số phận và sự kiêu ngạo của Sao Mai ( thiên sứ) Ở sách Ê sai nói về Sao Mai ( con trai) là kẻ đã bị sa từ trời xuống vì tội kiêu ngạo và nó tên là Bên, đó là vị thần mà Ba by lôn thờ lạy ( vì theo bản dịch chữ Bên nghĩa là Con trai)
Xem Esai 14 :12 – 13, 22 12 Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào! 13 Ngươi vẫn bụng bảo dạ rằng: Ta sẽ lên trời, sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc. 22 Đức Giê-hô-va vạn-quân phán: Ta sẽ dấy lên nghịch cùng chúng nó. Ta sẽ làm tiêu diệt tên của Ba-by-lôn và dân sót lại, cả đến con và cháu nữa, Đức Giê-hô-va phán vậy
Xem Lu ca 10 : 18 18 Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã thấy quỉ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp.
Xem Khải huyền 12 : 9 9 Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó.
III. Sự thành của tháp Ba Bên ( nghĩa là lộn xộn )
Xem Sáng thế ký 11 : 1 – 9 1 Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. 2 Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó. 3 Người nầy nói với người kia rằng: Hè! Chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. - Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ. - 4 Lại nói rằng: Nào! Chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất. 5 Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên. 6 Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đương khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được. 7 Thôi! Chúng ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia. 8 Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. 9 Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên [†] Ba-bên nghĩa là lộn xộn , vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.
Xuất phát từ lòng kiêu ngạo của loài người (sau cơn nước lụt) luôn luôn muốn vươn lên đến trời cao, phù hợp với sự kiêu ngạo mà Satan đã dổ dành Eva từ buổi sáng thế tại vườn Eđen năm xưa
Xem Sáng thế ký 3 : 5 – 6 5 nhưng Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác. 6 Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.
Sự kiêu ngạo này bởi 2 yếu tố : tri thức & địa vị 1. Bà Ê va : Mở trí khôn ( tri thức) và như Đức Chúa Trời ( địa vị) 2. Dòng dõi Nô ê : Xây cái thành (về kiến trúc, học thức), tháp cao đến trời ( địa vị). Kế hoạch lần đầu của A Đam và Ê va là bị đuổi ra khỏi địa đàng và hậu quả là bị (cơn nước lụt) huỷ diệt. Kế hoạch lần 2 của dòng dõi Nô ê là bị lộn xộn ngôn ngữ và giống dân ( cho nên phải tản lạc ra khắp thế gian). Tất cả hậu quả đều do bàn tay vô hình của Satan đang nắm phía sau lưng ( là kẻ kiêu ngạo). IV. Vị trí địa lý của Ba bên (lộn xộn) và Ba by lôn - Tại đồng bằng xứ Si nê a, nó được chọn là đất đồng bằng rộng lớn Xem Sáng thế ký 11 : 1 – 2 1 Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. 2 Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó
Xem Sáng thế ký 10 : 10 10 Nước người sơ lập là Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne ở tại xứ Si-nê-a.
V. Sự phát triển của Ba by lôn Tên của Ba by lôn được hình thành từ tên đồng nghĩa với Ba bên và nó cũng nằm tại vị trí đất Si nê a
Xem Đa ni ên 1 : 4 – 2 1 Năm thứ ba về đời Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, thì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến thành Giê-ru-sa-lem và vây lấy. 2 Chúa phó Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, và một phần khí mạnh của nhà Đức Chúa Trời vào tay người. Nê-bu-cát-nết-sa đem khí mạnh ấy về đất Si-nê-a, vào nhà của thần mình, và để trong kho của thần mình.
VI. Về tôn giáo của Ba by lôn thời Nê bu cát nết xa Thờ thần Bên (Con trai ) đồng nghĩa với Sao mai – con trai của sáng sớm ở Ê sai 14 : 12
12 Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào!
Thần Bên của Ba by lôn Xem Giê rê mi 51 : 44 44 Ta sẽ đoán phạt Bên trong Ba-by-lôn, sẽ móc vật nó đã nuốt ra khỏi miệng nó; các nước sẽ chẳng đổ về nó nữa. Tường thành Ba-by-lôn cũng sẽ xiêu đổ!
Xem Ê sai 41 : 1 1 Bên cúi xuống; Nê-bô khom mình; tượng nó chở trên loài thú, trên súc vật. Những vật mà các ngươi vốn thường khiêng, đè nặng quá, làm cho súc vật mệt nhọc.
VII. Địa vị và cuộc sống thuộc thể của Ba by lôn và thuộc linh A. Thuộc thể 1. Chủ mẫu của các nước Xem Ê sai 47 : 5,7 Hỡi con gái của người Canh-đê, hãy ngồi làm thinh, trốn trong nơi tối tăm! Vì từ nay về sau, ngươi sẽ không được gọi là chủ mẫu của các nước nữa. 7 Ngươi nói rằng: Ta sẽ làm chủ mẫu luôn. Ngươi chẳng để những sự ấy vào lòng, và chẳng nghĩ đến cuối cùng sự đó
2. Người sung sướng ở yên ổn Xem Ê sai 47 : 8 8 Hỡi người sung sướng ở yên ổn, bụng bảo dạ rằng: Ta đây, ngoài ta chẳng còn ai! Ta sẽ chẳng góa bụa, chẳng biết mất con cái là gì; nầy, bây giờ hãy nghe đây
3. Người con gái dịu dàng yểu điệu Xem Ê sai 47 : 1 Hỡi con gái đồng trinh của Ba-by-lôn, hãy xuống ngồi trong bụi đất! Hỡi con gái người Canh-đê, hãy ngồi dưới đất, ngươi chẳng có ngôi nữa! Vì từ nay về sau, ngươi sẽ không được xưng là dịu dàng yểu điệu nữa đâu.
4. Là sự vinh hiển các nước, sự hoa mĩ của lòng kiêu ngạo Xem Ê sai 13 : 19 19 Ba-by-lôn, là sự vinh hiển các nước, sự hoa mĩ của lòng kiêu ngạo người Canh đê, sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ mà Đức Chúa Trời đã lật đổ.
5. Đất thương mại và thành của buôn bán Xem Ê xê chi ên 17 : 4 Nó bẻ nhành non rất cao, đem đến trong một đất thương mại, và để trong một thành của người buôn bán.
6. Thành mà cả thiên hạ đều ngợi khen Xem Giê rê mi 51 : 41 41 Sê-sác đã bị chiếm lấy, và thành mà cả thiên hạ đều ngợi khen đã bị bắt là thể nào! Ba-by-lôn đã trở nên sự hoang vu giữa các nước là thể nào!
7. Sự quá xa hoa của nó Xem Khải huyền 18 : 3 3 vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó.
8. Nữ vương ngự trên ngôi mình Xem Khải huyền 18 : 7 7 Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ.
9. Thành cường thạnh Xem Khải huyền 18 : 10 10 Sợ phải cùng chịu hình khổ với nó, nên chúng đứng xa mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi!
10. Các thứ trái mà lòng người mơ ước Xem Khải huyền 18 : 14 14 Các thứ trái mà lòng ngươi mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa.
B. Thuộc Linh 1. Chén vàng trong tay Đức Giê hô va Xem Giê rê mi 51 : 7 7 Ba-by-lôn vốn là một cái chén vàng trong tay Đức Giê-hô-va, làm cho say cả đất; các nước đã uống rượu nó, vì đó mà trở nên điên cuồng.
2. Đầy tớ Chúa là Nê bu cát nết xa Xem Giê rê mi 25 : 9; 27 :6 9 nầy, ta sẽ sai đòi mọi họ hàng phương bắc cùng đầy tớ ta là Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến nghịch cùng đất nầy, nghịch cùng dân cư nó, và các nước ở chung quanh. Ta sẽ diệt hết chúng nó, làm chúng nó nên sự gở lạ, chê cười, và hoang vu đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy.
3. Lấy đá làm góc cùng đá làm nền Xem Giê rê mi 51 : 26 26 Người ta sẽ chẳng từ nơi ngươi lấy đá làm góc cùng đá làm nền nữa, nhưng ngươi sẽ là hoang vu đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy.
4. Kẻ gieo giống cùng kẻ cầm liềm Xem Giê rê mi 50 : 16 16 Hãy diệt những kẻ gieo giống trong Ba-by-lôn, cùng kẻ cầm liềm trong mùa gặt; vì sợ gươm kẻ ức hiếp, ai nấy sẽ trở về dân mình, ai nấy sẽ trốn về đất mình.
5. Sao mai, con trai của sáng sớm Xem Ê sai 14 : 12 12 Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào!
6. Một chim ưng lớn, đầy lông có nhiều sắc Xem Ê xê chi ên 17 : 3, 12 3 Ngươi khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Có một chim ưng lớn, cánh lớn, lông dài, đầy lông và có nhiều sắc, đến Li-ban và lấy ngọn cây hương bách đi. 12 Hãy nói cùng nhà bạn nghịch ấy rằng: Các ngươi không biết điều đó có ý nghĩa thế nào sao? Lại khá nói rằng: Nầy, vua Ba-by-lôn đã đi đến Giê-ru-sa-lem; đã bắt vua và các quan trưởng đem đi với mình về Ba-by-lôn.
7. Cái đầu bằng vàng Xem Đa ni ên 2 : 38 38 Ngài đã trao trong tay vua những con cái loài người, những thú đồng và chim trời, dầu chúng nó ở nơi nào, Ngài cũng đã làm cho vua được cai trị hết thảy; vậy vua là cái đầu bằng vàng.
8. Một cây lớn tới trời lạ thường Xem Đa ni ên 4 1 Vua Nê-bu-cát-nết-sa truyền cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng, ở trên khắp đất, rằng: Nguyền cho sự bình an các ngươi được thêm lên! 2 Ta lấy làm tốt lành mà rao cho các ngươi những dấu lạ và sự lạ mà Đức Chúa Trời Rất Cao đã làm ra đối với ta. 3 Ôi! Những dấu lạ của Ngài lớn lao là dường nào! Những sự lạ của Ngài mạnh sức là dường nào! Nước Ngài là nước còn mãi mãi, và quyền thế Ngài từ đời nọ đến đời kia. 4 Ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ở yên lặng trong cung ta, và thạnh vượng trong đền ta. 5 Ta thấy một điềm chiêm bao làm cho ta sợ sệt; những ý tưởng của ta ở trên giường, và những sự hiện thấy của đầu ta làm cho ta bối rối. 6 Vậy ta truyền chiếu chỉ, đem hết thảy những bác sĩ của Ba-by-lôn đến trước mặt ta, hầu cho họ giải nghĩa điềm chiêm bao cho ta. 7 Bấy giờ, những đồng bóng, thuật sĩ, người Canh-đê và thầy bói đều đến, ta kể điềm chiêm bao trước mặt họ, nhưng họ không giải nghĩa cho ta. 8 Sau hết, có Đa-ni-ên, gọi là Bên-tơ-xát-sa theo tên thần của ta, người được linh của các thần thánh cảm động, thì đến ra mắt ta. Ta kể chiêm bao ta cho người mà rằng: 9 Hỡi Bên-tơ-xát-sa, người làm đầu các thuật sĩ, bởi ta biết rằng linh của các thần thánh ở trong ngươi, và không có một điều kín nhiệm nào là khó cho ngươi, vậy hãy bảo cho ta những sự hiện thấy trong chiêm bao ta đã thấy, và hãy giải nghĩa. 10 Nầy là những sự hiện thấy đã tỏ ra trong đầu ta khi ta nằm trên giường: Ta nhìn xem, và nầy, ở giữa đất có một cây cao lạ thường. 11 Cây đó lớn lên và trở nên cứng mạnh; ngọn nó chấm đến trời, và ở nơi cuối cùng khắp đất đều xem thấy nó. 12 Lá nó thì đẹp và trái thì sai, có đủ cho mọi loài ăn; các thú đồng núp dưới bóng nó; chim trời ở trên nhành nó, và mọi loài xác thịt nhờ nó mà nuôi mình. 13 Ta nhìn xem những sự hiện thấy trong đầu ta, khi ta nằm trên giường, và nầy, có một đấng thánh canh giữ từ trên trời xuống. 14 Người kêu lớn tiếng và nói rằng: Hãy đốn cây và chặt nhành nó; hãy làm rụng lá và vãi trái nó ra; hãy cho thú vật tránh khỏi dưới nó, và chim chóc khỏi nhành nó! 15 Dầu vậy, hãy để lại gốc của rễ nó trong đất, mà cột nó bằng một dây xích sắt và đồng, nơi giữa cỏ xanh trong đồng ruộng; cho nó bị sương trên trời thấm ướt; và cho người cùng các loài thú chia phần cỏ dưới đất! 16 Cho lòng người bị đổi đi, và người được ban cho lòng thú; và trải qua bảy kỳ trên người. 17 Án đó là bởi các đấng canh giữ đã định, và lời các thánh đã truyền, hầu cho những kẻ sống biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước của loài người; Ngài muốn ban cho ai tùy ý, và lập kẻ rất hèn hạ trong loài người lên đó. 18 Ta đây là vua Nê-bu-cát-nết-sa, đã thấy điềm chiêm bao ấy. Vậy, hỡi Bên-tơ-xát-sa, ngươi hãy giải nghĩa cho ta, vì hết thảy bác sĩ trong nước ta không có thể giải nghĩa cho ta được; nhưng ngươi giải được, vì linh của các thần thánh ở trong ngươi. 19 Bấy giờ Đa-ni-ên, gọi tên là Bên-tơ-xát-sa, bị câm trong giây lâu, và những ý tưởng làm cho người bối rối. Vua lại cất tiếng nói rằng: Hỡi Bên-tơ-xát-sa, đừng cho điềm chiêm bao và sự giải nghĩa làm rối ngươi. Bên-tơ-xát-sa nói rằng: Thưa chúa, nguyền cho điềm chiêm bao đến cho những kẻ ghét chúa và sự giải nghĩa cho kẻ thù nghịch chúa! 20 Cây mà vua đã thấy, trở nên lớn và mạnh, ngọn chấm đến trời, và khắp đất đều xem thấy, 21 lá thì đẹp và trái thì sai, có đủ cho mọi loài ăn, các thú đồng ở dưới bóng nó, các loài chim trời làm ổ trên nhành nó, 22 hỡi vua, ấy là chính mình vua, vua đã trở nên lớn và mạnh, sự cao cả của vua tăng thêm và thấu đến trời, quyền thế vua đến đầu cùng đất. 23 Song đến điều vua thấy một đấng thánh canh giữ từ trời mà xuống, và nói rằng: Hãy đốn cây và hủy phá đi; song, hãy để lại gốc của rễ nó trong đất, rồi hãy buộc nó bằng một dây xích sắt và đồng ở giữa đám cỏ xanh trong đồng ruộng, cho nó bị nhuần thấm bởi sương móc trên trời; và cho người có phần với các thú đồng, cho đến khi đã trải qua trên người bảy kỳ. 24 Hỡi vua, này là lời giải, và này là mạng định của Đấng Rất Cao, đã đến trên vua, chúa tôi: 25 Người ta sẽ đuổi vua ra khỏi giữa loài người, và chỗ ở vua sẽ ở giữa những thú vật trong đồng. Vua sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò, và sẽ được thấm nhuần sương móc trên trời; bảy kỳ sẽ trải qua trên vua, cho đến khi vua nhận biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý. 26 Còn như đã truyền rằng chừa lại gốc của rễ cây đó, tức là khi nào vua đã nhận biết các từng trời cầm quyền, thì nước vua chắc sẽ thuộc về vua. 27 Vậy nên, hỡi vua, xin hãy nghe lời tôi khuyên vua: hãy lấy sự công bình mà chuộc tội lỗi, hãy thương xót những kẻ nghèo khó để chuộc những điều gian ác mình. Như vậy sự bình an vua còn có thể lâu dài hơn nữa. 28 Hết thảy những sự đó đều đến cho vua Nê-bu-cát-nết-sa. 29 Khi khỏi mười hai tháng, vua đi dạo trong hoàng cung Ba-by-lôn, 30 thì cất tiếng mà nói rằng: Đây chẳng phải là Ba-by-lôn lớn mà ta đã dựng, bởi quyền cao cả ta, để làm đế đô ta, và làm sự vinh hiển oai nghi của ta sao? 31 Lời chưa ra khỏi miệng vua, thì có tiếng từ trên trời xuống rằng: Hỡi vua Nê-bu-cát-nết-sa, đã báo cho ngươi biết rằng: Ngôi nước đã lìa khỏi ngươi. 32 Ngươi sẽ bị đuổi khỏi giữa loài người, sẽ ở với thú đồng; sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò, rồi bảy kỳ sẽ trải qua trên ngươi, cho đến khi ngươi nhận biết rằng Đấng Rất Cao cai trị trong nước của loài người, và Ngài muốn ban cho ai tùy ý. 33 Trong chính giờ đó, lời nói ấy đã ứng nghiệm cho vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua bị đuổi khỏi giữa loài người; ăn cỏ như bò; thân thể vua phải thấm nhuần sương móc trên trời, cho đến tóc vua cũng mọc như lông chim ưng, móng vua thì giống như móng loài chim chóc. 34 Đến cuối cùng những ngày đó, ta đây, Nê-bu-cát-nết-sa, ngước mắt lên trời, trí khôn đã phục lại cho ta, và ta xưng tạ Đấng Rất Cao. Ta bèn ngợi khen và làm sáng danh Đấng sống đời đời, uy quyền Ngài là uy quyền còn mãi mãi, nước Ngài từ đời nọ đến đời kia. 35 Hết thảy dân cư trên đất thảy đều cầm như là không có; Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất; chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy? 36 Trong lúc đó, trí khôn phục lại cho ta, ta lại được sự vinh hiển của ngôi nước ta, sự oai nghi chói sáng trở lại cho ta; những nghị viên và đại thần ta lại chầu ta. Ta lại được lập lên trên ngôi nước, và sự uy nghi quyền thế ta càng thêm. 37 Bây giờ, ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ngợi khen, tôn vinh, và làm cả sáng Vua trên trời; mọi công việc Ngài đều chân thật, các đường lối Ngài đều công bình; và kẻ nào bước đi kiêu ngạo, Ngài có thể hạ nó xuống.
9. Từng mặc vải gai mịn, màu tía, màu điều, vàng, ngọc cùng hột châu Xem Khải huyền 18 : 16 16 Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết!
10. Tiềng kẻ gảy đàn cầm, đánh nhạc, thổi sáo, thổi kèn, tiếng cối xay, ánh sáng đèn, tiếng vợ chồng mới cưới Xem Khải huyền 18 : 22 – 23 22 Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ gảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Ở đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối xay cũng không nghe nữa. 23 Ánh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa, và người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới, bởi vì các nhà buôn của ngươi đều là kẻ tôn trọng trên đất, bởi vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối.
VIII. Lòng kiêu ngạo và những tội lỗi nó đã làm. - Ba by lôn lớn mà ta đã dựng Xem Đa ni ên 4 : 30 30 thì cất tiếng mà nói rằng: Đây chẳng phải là Ba-by-lôn lớn mà ta đã dựng, bởi quyền cao cả ta, để làm đế đô ta, và làm sự vinh hiển oai nghi của ta sao?
- Cậy sự gian ác và khôn ngoan mình Xem Ê sai 47 : 10 10 Ngươi cậy sự gian ác của mình và nói rằng: Chẳng ai thấy ta. Sự khôn ngoan thông biết của ngươi đã phỉnh dỗ ngươi, và ngươi tự nói trong lòng rằng: Ta đây, ngoài ta chẳng còn ai! - Trông cậy vào phù chú, bói toán, hỏi trời, xem sao Xem Ê sai 47 : 13 13 Ngươi đã nhọc sức vì cớ nhiều mưu chước. Vậy những kẻ hỏi trời, xem sao, xem trăng mới mà đoán việc ngày sau, bây giờ hãy đứng lên và cứu ngươi cho khỏi những sự xảy đến trên ngươi.
- Sự tham lam ngươi đã đầy Xem Giê rê mi 51 : 13 13 Hỡi thành giàu có của báu, ở trên nhiều dòng nước kia, sự cuối cùng ngươi đã đến, cái lượng sự tham lam ngươi đã đầy!
- Phản bội lại giao ước Xem Gê rê mi 51 : 34 34 Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã nuốt ta, nghiền ta; bỏ ta như bình trống không; nuốt ta như con vật lớn; lấy của ngon ta làm no bụng người; đuổi ta ra khỏi.
- Dồn mọi người lại làm phu tù Xem Ha ba cúc 1 : 9 – 11 9 Cả dân ấy đến đặng làm sự bạo ngược; chúng nó mạnh dạn đi thẳng tới, và dồn phu tù lại như cát. 10 Nó nhạo cười các vua, chế báng các quan trưởng, và chê cười mỗi đồn lũy: Nó đắp lũy, rồi chiếm lấy. 11 Bấy giờ nó sẽ sấn tới như gió thổi qua; vì nó lấy sức mạnh mình làm thần mình, nên phạm tội trọng.
- Thâu góp mọi nước cho mình Xem Ha ba cúc 2 : 5 5 Nó ghiền rượu, làm sự dối trá, kiêu ngạo và chẳng ở yên chỗ mình, mở rộng lòng ham mê nó như Âm phủ, như sự chết chẳng được no chán; nó thâu góp mọi nước và hội hiệp mọi dân cho mình.
- Kẻ nhóm góp của chẳng thuộc về mình Xem Ha ba cúc 2 : 6 6 Chớ thì những kẻ đó há chẳng lấy thí dụ nhạo cười nó, lấy lời kín biếm nhẻ nó mà rằng: Khốn thay cho kẻ nhóm góp của chẳng thuộc về mình! Nó gánh vác của cầm rất nặng cho đến chừng nào?
- Kẻ tìm lợi bất nghĩa diệt nhiều dân tộc Xem Ha ba cúc 2 : 9 – 10 9 Khốn thay cho kẻ tìm lợi bất nghĩa cho nhà mình, để lót ổ mình trong nơi cao, để được cứu khỏi tay hung ác. 10 Ngươi đã dùng mưu xấu hổ cho nhà mình mà diệt nhiều dân tộc, ngươi đã phạm tội nghịch cùng linh hồn ngươi.
- Kẻ lấy huyết dựng ấp Xem Ha ba cúc 2 : 12 12 Khốn thay cho kẻ lấy huyết dựng ấp, và lấy sự gian ác xây thành!
- Kẻ pha đồ độc cho người lận cận mình uống Xem Ha ba cúc 2 : 15 – 16 15 Khốn thay cho kẻ pha đồ độc cho người lân cận mình uống, làm cho nó say, đặng xem sự lõa lồ nó! 16 Ngươi đầy sự sỉ nhục mà chẳng đầy sự vinh hiển. Ngươi cũng hãy uống đi, và làm như người chưa chịu phép cắt bì. Chén của Đức Giê-hô-va cầm trong tay hữu sẽ đến phiên trao cho ngươi, và sự nhuốc nhơ sẽ đổ ra trên sự vinh hiển ngươi.
IX. Những mối dây liên quan giữa Ba by lôn và tuyển dân Chúa (Giu đa) - Dân sự được sự ích trong Ba by lôn ( Canh đê) – trái vả tốt Xem Giê rê mi 24 : 4 – 7 Bấy giờ có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 5 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Như những trái vả tốt nầy, ta cũng sẽ xem những kẻ phu tù Giu-đa, mà ta đã sai từ nơi nầy đến trong đất người Canh-đê, cho chúng nó được ích. 6 Ta sẽ để con mắt ta trên chúng nó làm ích cho, và ta sẽ đem họ về trong xứ nầy, lập lên mà không phá đi nữa, trồng lại mà không nhổ đi nữa. 7 Ta sẽ ban cho chúng nó tấm lòng hay nhận biết ta là Đức Giê-hô-va. Chúng nó sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó; vì chúng nó sẽ hết lòng trở về cùng ta.
- Núp bóng sự bình an của Ba by lôn Xem Giê rê mi 29 : 4 – 7 Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán cùng những kẻ mà ta đã khiến bị bắt làm phu tù từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn như vầy: 5 Hãy xây nhà và ở; hãy trồng vườn và ăn trái; 6 hãy lấy vợ, đẻ con trai và con gái; hãy lấy vợ cho con trai, gả chồng cho con gái, hầu cho chúng nó đẻ ra con trai và con gái. Số các ngươi khá thêm nhiều ra ở đó và đừng kém đi. 7 Hãy tìm sự bình an cho thành mà ta đã khiến các ngươi bị đày đến làm phu tù, hãy vì nó cầu nguyện Đức Giê-hô-va; vì sự bình an các ngươi nhờ sự bình an của nó.
- Các người có địa vị cao, quan trưởng, có sự khôn ngoan ở đất Giu đa mang sang Ba by lôn và các thợ Xem Đa ni ên 1 : 3 – 4, 17 3 Vua truyền cho Át-bê-na, là người làm đầu các hoạn quan mình, lấy trong con cái Y-sơ-ra-ên, trong dòng vua, và trong hàng quan sang, mà đem đến 4 mấy kẻ trai trẻ không có tật nguyền, mặt mày xinh tốt, tập mọi sự khôn ngoan, biết cách trí, đủ sự thông hiểu khoa học, có thể đứng chầu trong cung vua, và dạy cho học thức và tiếng của người Canh-đê. 17 Vả, Đức Chúa Trời ban cho bốn người trai trẻ đó được thông biết tỏ sáng trong mọi thứ học thức và sự khôn ngoan. Đa-ni-ên cũng biết được mọi sự hiện thấy và chiêm bao.
- Những khí mạnh của đền thờ Chúa được mang hết sang Ba by lôn Xem Ê sai 39 : 1 – 8 1 Trong lúc đó, vua Ba-by-lôn, là Mê-rô-đác-Ba-la-đan, con vua Ba-la-đan, sai đưa thơ và lễ vật dâng Ê-xê-chia; vì nghe người đau và được lành. 2 Ê-xê-chia vui mừng vì các sứ thần, thì cho xem trong cung điện, nơi để những của quí, như bạc vàng, thuốc thơm, dầu báu, cùng kho khí giới, và mọi đồ trong phủ khố mình. Phàm vật chi trong cung và trong cả nước mình, chẳng có tí gì là Ê-xê-chia chẳng cho các sứ thần xem đến. 3 Đấng tiên tri Ê-sai bèn đến chầu vua Ê-xê-chia, và hỏi rằng: Các người đó nói chi, và từ đâu đến thăm vua? Ê-xê-chia đáp rằng: Họ đến từ phương xa, tức là từ nước Ba-by-lôn. 4 Ê-sai tiếp rằng: Họ đã xem gì trong cung vua? Ê-xê-chia đáp rằng: Họ đã xem hết thảy mọi vật ở trong cung ta; chẳng có vật gì trong phủ khố ta mà ta chẳng chỉ cho họ. 5 Ê-sai bèn tâu cùng Ê-xê-chia rằng: Xin nghe lời Đức Giê-hô-va vạn quân phán: 6 Nầy, ngày đến, là khi mọi vật trong cung ngươi, mọi vật mà tổ tiên ngươi đã chứa trong kho cho đến ngày nay, sẽ dời sang Ba-by-lôn, chẳng còn tí nào hết, Đức Giê-hô-va phán vậy. 7 Các con trai ngươi, con cháu ra từ ngươi, sanh bởi ngươi, cũng có kẻ sẽ bị bắt để làm quan hoạn trong cung vua Ba-by-lôn. 8 Ê-xê-chia đáp lại cùng Ê-sai rằng: Lời của Đức Giê-hô-va mà ông vừa thuật cho ta nghe đó là tốt lắm! Lại rằng: Vì trong ngày ta còn sống, sẽ được bình yên và lẽ thật.
Xem II Các vua 20 : 12 – 18 12 Trong lúc đó, Bê-rô-đác-Ba-la-đan, con trai Ba-la-đan, vua Ba-by-lôn, gởi thơ và lễ vật cho Ê-xê-chia; vì người đã hay rằng Ê-xê-chia đau. 13 Ê-xê-chia nghe lời các sứ giả tâu, thì vui mừng, bèn dẫn chúng viếng đền, là nơi chứa các vật quí, bạc, vàng, thuốc thơm, dầu quí, lại cho xem trại cơ khí, và mọi vật trong kho tàng mình. Chẳng có chi trong đền hoặc trong nước mà Ê-xê-chia không cho chúng xem thấy. 14 Tiên tri Ê-sai bèn đi đến vua Ê-xê-chia, và hỏi người rằng: Các người đó nói chi và ở xứ nào đến? Ê-xê-chia đáp: Chúng đến từ xứ xa, từ Ba-by-lôn. 15 Ê-sai tiếp: Vua cho chúng xem chi trong đền của vua? Ê-xê-chia đáp: Chúng có thấy mọi vật ở trong đền ta. Chẳng gì trong các kho tàng ta mà ta chẳng chỉ cho chúng xem. 16 Ê-sai bèn nói với Ê-xê-chia rằng: Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: 17 Thì giờ sẽ đến khi mọi vật ở trong đền vua, mọi vật mà các tổ phụ vua đã chất chứa trong kho tàng cho đến ngày nay, đều sẽ bị đem qua Ba-by-lôn. Đức Giê-hô-va phán: Sẽ chẳng còn chi lại hết. 18 Lại, những đứa con trai của vua, do nơi vua sanh ra, sẽ bị bắt dẫn đi làm hoạn quan trong đền vua Ba-by-lôn.
X. Lời kêu gọi và lời phán xét nước Ba by lôn - Lời kêu gọi vua Ba by lôn chuộc tội lỗi Xem Đa ni ên 4 : 27 27 Vậy nên, hỡi vua, xin hãy nghe lời tôi khuyên vua: hãy lấy sự công bình mà chuộc tội lỗi, hãy thương xót những kẻ nghèo khó để chuộc những điều gian ác mình. Như vậy sự bình an vua còn có thể lâu dài hơn nữa.
- Muốn chữa lành cho nó bằng nhủ hương Xem Giê rê mi 51 : 8 – 9 8 Ba-by-lôn thình lình bị đổ xuống và tan nát. Hãy vì nó than khóc! Hãy lấy nhũ hương chữa đau đớn nó, hoặc nó được chữa lành chăng? - 9 Chúng ta vẫn muốn chữa lành cho Ba-by-lôn, song nó không được chữa. Hãy lìa bỏ nó, ai nấy trở về xứ mình; vì sự phán xét nó thấu đến tận trời và lên tận vòng khung.
- Nó lên mình nghịch cùng Đức Giê hô va Xem Giê rê mi 50 : 29 29 Hãy gọi hết thảy những kẻ cầm cung, mọi người giương cung đến đánh Ba-by-lôn; đóng trại chung quanh nó; đừng để cho ai thoát khỏi! Hãy theo công việc nó mà báo trả, làm cho nó trọn như nó đã làm; vì nó lên mình kiêu ngạo nghịch cùng Đức Giê-hô-va, nghịch cùng Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. - Các nước Mê đi cầm đầu đánh nó Xem Giê rê mi 50 : 41, 51 : 11 41 Nầy, một dân đến từ phương bắc; một nước lớn và nhiều vua từ các phương đất rất xa bị xui giục. 11 Hãy chuốc tên, cầm thuẫn cho chắc! Đức Giê-hô-va đã giục lòng các vua ở Mê-đi, vì Ngài đã định ý hủy diệt Ba-by-lôn. Vì đây là sự báo thù của Đức Giê-hô-va, Ngài trả thù về đền thờ của Ngài.
- Ý chỉ của Chúa ngịch cùng Ba by lôn Xem Giê rê mi 51 : 29 29 Đất rúng động và sầu thảm, vì ý chỉ của Đức Giê-hô-va nghịch cùng Ba-by-lôn đã đứng vững, để làm cho Ba-by-lôn thành ra hoang vu không có dân ở.
- Những nước tham gia đánh Ba by lôn Xem Giê rê mi 51 : 27 – 28 27 Hãy dựng cờ xí trong đất; thổi kèn trong các nước; sửa soạn các dân đánh nó! Hãy gọi những nước A-ra-rát, Min-ni, Ách-kê-na, đến đánh nó! Hãy lập một quan tướng đạo binh! Hãy khiến những ngựa lên như cào cào! 28 Hãy sửa soạn các nước đánh nó, tức các vua Mê-đi, các quan cai trị nó, các quan đề hình nó, và cả đất mà những người ấy cai quản!
- Tai vạ lâm trên Ba by lôn mà chẳng biết từ đâu 11 Vậy nên tai vạ sẽ lâm trên ngươi, mà chẳng biết từ đâu; hoạn nạn sẽ đến cho ngươi, mà chẳng trừ được; sự hủy diệt xảy ra thình lình, ngươi không thể liệu trước.
- Tiêu diệt tên của Ba by lôn và kẻ lập thành ấp khắp thế gian Xem Ê sai 14 : 21 – 22 21 Hãy sắm sẵn sự chém giết cho con cháu vì tội ác của tổ phụ; hầu cho họ không dấy lên nữa đặng được đất làm cơ nghiệp, lập thành ấp khắp thế gian! 22 Đức Giê-hô-va vạn-quân phán: Ta sẽ dấy lên nghịch cùng chúng nó. Ta sẽ làm tiêu diệt tên của Ba-by-lôn và dân sót lại, cả đến con và cháu nữa, Đức Giê-hô-va phán vậy.
- Nó sẽ giống như Sô đôm và Gô mô gơ Xem Ê sai 13 : 19 19 Ba-by-lôn, là sự vinh hiển các nước, sự hoa mĩ của lòng kiêu ngạo người Canh đê, sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ mà Đức Chúa Trời đã lật đổ.
- Nó sẽ hoang vu đời đời Xem Giê rê mi 51 : 41 – 43 41 Sê-sác đã bị chiếm lấy, và thành mà cả thiên hạ đều ngợi khen đã bị bắt là thể nào! Ba-by-lôn đã trở nên sự hoang vu giữa các nước là thể nào! 42 Biển lên ngập Ba-by-lôn, nó bị muôn vàn luồng sóng bao bọc lấy. 43 Các thành nó đã trở nên hoang vu, đất khô, nơi sa mạc, đất không dân ở, không con người nào đi qua.
XI. Kêu gọi mọi người và dân Chúa ra khỏi Ba by lôn - Hãy trốn khỏi giữa Ba by lôn, ai nấy khá thoát mạng mình Xem Giê rê mi 51 : 6 6 Hãy trốn khỏi giữa Ba-by-lôn, ai nấy khá thoát mạng mình; chớ vì tội nó mà bị chết mất. Vì ấy là kỳ trả thù của Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo cho nó.
- Hởi dân ta hãy ra khỏi giữa nó Xem Giê rê mi 51 : 45 45 Hỡi dân ta, hãy ra khỏi giữa nó, ai nấy khá cứu mình khỏi cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va!
- Mọi dân lộn giống của nó Xem Giê rê mi 50 : 37 37 Gươm dao ở trên những xe, ngựa, cùng mọi dân lộn giống giữa nó, chúng nó sẽ trở nên như đàn bà! Gươm dao ở trên những kho tàng nó đều bị cướp giựt!
- Nghe tiếng kêu của kẻ đi trốn Xem Giê rê mi 50 : 28 28 Hãy nghe tiếng kêu của kẻ đi trốn, của những kẻ thoát khỏi đất Ba-by-lôn, đặng rao ra trong Si-ôn sự báo thù của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, sự báo thù về đền thờ Ngài.
- Ai nấy sẽ trở về dân mình; ai nấy trốn về đất mình Xem Giê rê mi 50 : 16 16 Hãy diệt những kẻ gieo giống trong Ba-by-lôn, cùng kẻ cầm liềm trong mùa gặt; vì sợ gươm kẻ ức hiếp, ai nấy sẽ trở về dân mình, ai nấy sẽ trốn về đất mình.
- Hãy trốn ra ngoài Ba by lôn Xem Giê rê mi 50 : 8 – 9 8 Hãy trốn ra ngoài Ba-by-lôn, ra khỏi đất người Canh-đê, hãy đi như dê đực đi đầu bầy! 9 Vì nầy, ta sẽ khiến nhiều dân tộc dấy lên từ xứ phương bắc, và đến nghịch cùng Ba-by-lôn, các dân ấy sẽ dàn trận đánh Ba-by-lôn, và từ đó nó bị hãm lấy. Tên chúng nó bắn như tên của lính chiến giỏi, chẳng trở về không.
- Hãy ra khỏi Ba by lôn, hãy tránh xa người Canh đê Xem Ê sai 48 : 20 20 Hãy ra khỏi Ba-by-lôn! Hãy tránh xa người Canh-đê! Hãy cất tiếng reo vui mà rao tin nầy tuyên bố và truyền ra cho đến nơi cuối cùng đất! Hãy rằng: Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, là tôi tớ Ngài.
- Bây giờ ai nấy như con hươu bị đuổi, sẽ trở lại cùng dân mình Xem Ê sai 13 : 14 14 Bấy giờ, ai nấy như con hươu bị đuổi, như bầy chiên không người nhóm lại, sẽ trở lại cùng dân mình, sẽ trốn về xứ mình. 15 Kẻ nào người ta gặp được sẽ bị đâm; kẻ nào bị bắt sẽ ngã dưới lưỡi gươm. 16 Con trẻ họ sẽ bị đập chết trước mắt họ, nhà bị cướp, vợ bị dâm hãm.
- Hỡi dân ta hãy ra khỏi ba by lôn Xem Khải huyền 18 : 4 4 Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng;
XII. Dùng Kinh thánh Tân ước và Cựu ước đối chiếu xem Ba by lôn có thật đã bị huỷ diệt thời Cựu ước chưa Xem mối (quan hệ) liên quan giữa Ba by lôn Cựu ước & Tân ước 1. Lời tuyên bố của Nê bu cát nết sa ( Đa ni ên 4 : 30) Đây phải chăng là Ba by lôn lớn (liên quan đến Khải huyền 18)
2. Cuộc đảo chính xảy ra tại Ba by lôn trong đêm đó ( Bên xát xa - vua ba by lôn bị giết), vua Đa ri út người Mê đi được nước và dân tuyển của Chúa vẫn còn ở đó không hề có sự chạy trốn ra khỏi, như các sách tiên tri đã nói
Xem Đa ni ên 5 : 1, 26 – 31 1 Vua Bên-xát-sa dọn tiệc lớn đãi một ngàn đại thần mình, và vua uống rượu trước mặt họ. 26 Nầy là nghĩa những chữ đó: Mê-nê là: Đức Chúa Trời đã đếm nước vua và khiến nó đến cuối cùng. 27 Tê-ken là: Vua đã bị cân trên cái cân, và thấy là kém thiếu. 28 Phê-rết là: Nước vua bị chia ra, được ban cho người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ. 29 Tức thì, theo lệnh truyền của vua Bên-xát-sa, người ta mặc màu tía cho Đa-ni-ên; đeo vào cổ người một vòng vàng, và rao ra rằng người được dự chức thứ ba trong việc chính trị nhà nước. 30 Ngay đêm đó, vua người Canh-đê là Bên-xát-sa bị giết. 31 Rồi Đa-ri-út là người Mê-đi được nước, bấy giờ tuổi người độ sáu mươi hai.
Sau đó Đa ni ên còn phục vụ thêm cho người Phe rơ sơ – vua Si ru ( Ba tư)
Đối chiếu Tân ước Khải huyền 18 : 2 – 24 và Cựu ước các tiên tri đã nói 2 Người kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc, 3 vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó. 4 Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng; 5 vì tội lỗi nó chất cao tày trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến các sự gian ác nó. 6 Các ngươi hãy làm cho nó điều nó đã làm cho kẻ khác; hãy báo lại gấp hai công việc nó, hãy pha cho nó gấp hai chén mà nó đã pha cho kẻ khác. 7 Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ. 8 Vậy cho nên đồng trong một ngày, những tai nạn này sẽ giáng trên nó, nào sự chết, nào sự than khóc, nào đói kém, và nó sẽ bị lửa thiêu mình đi nữa; vì Đức Chúa Trời phán xét nó là Chúa có quyền lực. 9 Các vua thế gian đã phạm tội dâm dục và say đắm trong cuộc xa xỉ với nó, thấy khói của sự cháy nó thì sẽ vì nó khóc lóc thở than. 10 Sợ phải cùng chịu hình khổ với nó, nên chúng đứng xa mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi! 11 Các nhà buôn trên đất cũng vì nó khóc lóc rầu rĩ, vì không ai mua hàng hóa mình nữa: 12 Hàng hóa là vàng, bạc, ngọc, châu, vải gai mịn, màu tía, lụa, màu điều; các hạng gỗ thơm; các thức đồ bằng ngà voi, bằng gỗ quí, bằng đồng, bằng sắt, bằng đá hoa; 13 nhục quế, sa nhân, hương, dầu thơm, nhũ hương, rượu, dầu, bột mì mịn, lúa mì, bò, cừu, ngựa, xe, tôi mọi và linh hồn người ta nữa. 14 Các thứ trái mà lòng ngươi mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa. 15 Các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu, mà rằng: 16 Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết! 17 Phàm những lái tàu, những người đi biển, và thủy thủ, những kẻ buôn bán trên mặt biển, đều đứng cách xa; 18 khi thấy khói của sự cháy thành thì cùng kêu lên rằng: Có thành nào đã được như thành lớn nầy ư? 19 Chúng lấy bụi rắc lên đầu mình, thương khóc than vãn, mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn nầy đã lấy sự giàu có mình làm giàu cho mọi kẻ có tàu trên biển, mà trong một giờ, đã hóa thành một chỗ hoang vu! 20 Hỡi trời, hãy vui mừng về việc nó đi, và các thánh, các sứ đồ, các tiên tri, cũng hãy mừng rỡ đi; vì Đức Chúa Trời đã xử công bình cho các ngươi trong khi Ngài xét đoán nó. 21 Bấy giờ một vị thiên sứ rất mạnh lấy một hòn đá như cối xay lớn quăng xuống biển mà rằng: Ba-by-lôn là thành lớn cũng sẽ bị quăng mạnh xuống như vậy, và không ai tìm thấy nó nữa. 22 Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ gảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Ở đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối xay cũng không nghe nữa. 23 Ánh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa, và người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới, bởi vì các nhà buôn của ngươi đều là kẻ tôn trọng trên đất, bởi vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối. 24 Ấy chính trong thành nầy, mà đã tìm thấy huyết các đấng tiên tri, các thánh đồ, và hết thảy những kẻ đã bị giết trong thế gian.
3. Khải huyền 18 : 2 – 3 đối chiếu Ê sai 21 : 9
2 Người kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc, 3 vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó.
9 Nầy, có quân lính cỡi ngựa đi từng cặp mà đến. Nó đáp rằng: Ba-by-lôn đổ xuống rồi, đổ xuống rồi! Mọi hình tượng tà thần của nó đã bể nát trên đất rồi!
Tân ước : Ba by lôn lớn đã đổ rồi - Cựu ước : Ba by lôn đổ xuống rồi, đổ xuống rồi Tân ước : chổ ở của các ma qủi, sự quá xa hoa của nó – Cựu ước : Mọi hình tượng tà thần bể nát đều giống nhau
Khải huyền 18 : 4 – 5 đối chiếu Giê rê mi 51 : 45, Ê sai 48 : 20
4 Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng; 5 vì tội lỗi nó chất cao tày trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến các sự gian ác nó.
45 Hỡi dân ta, hãy ra khỏi giữa nó, ai nấy khá cứu mình khỏi cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va!
20 Hãy ra khỏi Ba-by-lôn! Hãy tránh xa người Canh-đê! Hãy cất tiếng reo vui mà rao tin nầy tuyên bố và truyền ra cho đến nơi cuối cùng đất! Hãy rằng: Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, là tôi tớ Ngài.
Khải huyền 18 : 6 đối chiếu Ha ba cúc 2 : 15 – 16
6 Các ngươi hãy làm cho nó điều nó đã làm cho kẻ khác; hãy báo lại gấp hai công việc nó, hãy pha cho nó gấp hai chén mà nó đã pha cho kẻ khác.
15 Khốn thay cho kẻ pha đồ độc cho người lân cận mình uống, làm cho nó say, đặng xem sự lõa lồ nó! 16 Ngươi đầy sự sỉ nhục mà chẳng đầy sự vinh hiển. Ngươi cũng hãy uống đi, và làm như người chưa chịu phép cắt bì. Chén của Đức Giê-hô-va cầm trong tay hữu sẽ đến phiên trao cho ngươi, và sự nhuốc nhơ sẽ đổ ra trên sự vinh hiển ngươi.
Khải huyền 18 : 7 đối chiếu Ê sai 47 : 5, 7
7 Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ.
5 Hỡi con gái của người Canh-đê, hãy ngồi làm thinh, trốn trong nơi tối tăm! Vì từ nay về sau, ngươi sẽ không được gọi là chủ mẫu của các nước nữa. 7 Ngươi nói rằng: Ta sẽ làm chủ mẫu luôn. Ngươi chẳng để những sự ấy vào lòng, và chẳng nghĩ đến cuối cùng sự đó.
Khải huyền 18 : 8 – 10 đối chiếu Ê sai 47 : 8, 9
. 8 Vậy cho nên đồng trong một ngày, những tai nạn này sẽ giáng trên nó, nào sự chết, nào sự than khóc, nào đói kém, và nó sẽ bị lửa thiêu mình đi nữa; vì Đức Chúa Trời phán xét nó là Chúa có quyền lực. 9 Các vua thế gian đã phạm tội dâm dục và say đắm trong cuộc xa xỉ với nó, thấy khói của sự cháy nó thì sẽ vì nó khóc lóc thở than. 10 Sợ phải cùng chịu hình khổ với nó, nên chúng đứng xa mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi!
8 Hỡi người sung sướng ở yên ổn, bụng bảo dạ rằng: Ta đây, ngoài ta chẳng còn ai! Ta sẽ chẳng góa bụa, chẳng biết mất con cái là gì; nầy, bây giờ hãy nghe đây. 9 Cùng trong một giây phút trong một ngày, hai nạn ấy, là sự mất con cái và sự góa bụa, sẽ xảy đến cho ngươi. Hai nạn ấy sẽ đến đầy đủ trên ngươi, khi ngươi làm tà thuật rất nhiều, và có lắm quyền của phù chú!
Khải huyền 18 : 15 đối chiếu Ê sai 47 : 15
15 Các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu, mà rằng:
15 Kìa, những sự mà ngươi đã làm khó nhọc thì đã trở nên như vậy: những kẻ buôn bán với ngươi từ thuở nhỏ, ai về chỗ nấy, chẳng ai đến cứu ngươi hết!
Khải huyền 18 : 21 đối chiếu Giê rê mi 51 : 59 - 64
21 Bấy giờ một vị thiên sứ rất mạnh lấy một hòn đá như cối xay lớn quăng xuống biển mà rằng: Ba-by-lôn là thành lớn cũng sẽ bị quăng mạnh xuống như vậy, và không ai tìm thấy nó nữa.
59 Nầy là lời của tiên tri Giê-rê-mi dặn Sê-ra-gia, con trai Nê-ri-gia, cháu Ma-ha-sê-gia, khi người đi với Sê-đê-kia, vua Giu-đa, qua nước Ba-by-lôn trong năm thứ tư đời vua ấy. Bấy giờ Sê-ra-gia làm quan nội đại thần. 60 Giê-rê-mi chép vào sách hết thảy các tai nạn phải đến cho Ba-by-lôn, tức mọi lời đã được chép về Ba-by-lôn. 61 Giê-rê-mi nói với Sê-ra-gia rằng: Khi ngươi đã đến Ba-by-lôn, khá lo đọc hết những lời nầy. 62 Rồi ngươi khá nói: Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã phán rằng sẽ hủy diệt thành nầy, và nơi nầy sẽ không ai ở nữa, từ loài người cho chí loài vật cũng không, song sẽ nên một nơi hoang vu đời đời. 63 Khi ngươi đã đọc sách nầy xong, thì khá cột vào sách một cục đá, mà ném xuống giữa sông Ơ-phơ-rát, 64 và khá nói rằng: Ba-by-lôn sẽ chìm xuống như vậy! Nó sẽ chẳng còn chỗi dậy nữa vì tai nạn mà ta sẽ giáng trên nó, chúng nó sẽ mỏi mệt. Lời của Giê-rê-mi đến đây.
Khải huyền 18 : 22 – 23 đối chiếu II Sử ký 5 : 11 – 14 và Giê rê mi 25 : 10
22 Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ gảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Ở đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối xay cũng không nghe nữa. 23 Ánh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa, và người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới, bởi vì các nhà buôn của ngươi đều là kẻ tôn trọng trên đất, bởi vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối.
11 Khi những thầy tế lễ ra khỏi nơi thánh (vì phàm thầy tế lễ ở đó đều đã dọn mình ra thánh sạch, mà chưa giữ theo ban thứ nào), 12 và các người ca hát trong dân Lê-vi, tức A-sáp, Hê-man, Giê-đu-thun, cùng con trai và anh em họ, đương mặc quần áo bằng vải gai mịn, cầm chập chỏa, đàn sắt, và đàn cầm, đều đứng ở phía đông bàn thờ, với một trăm hai mươi thầy tế lễ thổi kèn. 13 Xảy khi kẻ thổi kèn và kẻ ca hát đồng thinh hòa nhau như một người, mà khen ngợi cảm tạ Đức Giê-hô-va, và khi họ trổi tiếng kèn, chập chỏa, nhạc khí lên khen ngợi Đức Giê-hô-va, rằng: Ngài từ thiện, lòng thương xót Ngài hằng có đời đời, thì đền của Đức Giê-hô-va bị mây lấp đầy; 14 đến đỗi những thầy tế lễ vì mây không thể đứng đó hầu việc được, vì sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy lấp đền của Đức Chúa Trời.
10 Vả, ta sẽ làm cho trong vòng chúng nó hết tiếng reo vui và kêu mừng, hết tiếng của rể mới và dâu mới, hết tiếng ầm ầm của cối xay và ánh sáng của đèn.
Nói đúc kết lại rằng Ba by lôn chưa hề bị huỷ diệt và đều đó chưa có xảy ra trong quá khứ ( Cựu ước)
NHỮNG Ý NGHĨA THUỘC LINH CỦA BA BY LÔN ĐƯỢC PHÂN TÍCH RA : 1. Giê rê mi 50 : 16 Kẻ gieo giống và kẻ cầm liềm trong Ba by lôn 16 Hãy diệt những kẻ gieo giống trong Ba-by-lôn, cùng kẻ cầm liềm trong mùa gặt; vì sợ gươm kẻ ức hiếp, ai nấy sẽ trở về dân mình, ai nấy sẽ trốn về đất mình. Lu ca 8 : 5 5 Người gieo đi ra để gieo giống mình. Khi vãi giống, một phần giống rơi ra dọc đường, bị giày đạp và chim trời xuống ăn hết.
2. Giê rê mi 51 : 26 Lấy đá làm góc cùng đá làm nền 26 Người ta sẽ chẳng từ nơi ngươi lấy đá làm góc cùng đá làm nền nữa, nhưng ngươi sẽ là hoang vu đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy. Đá làm góc – Rô ma 9 : 33 33 như có chép rằng: Nầy ta để tại Si-ôn một hòn đá ngăn trở, tức là hòn đá lớn làm cho vấp ngã; Hễ ai tin đến thì khỏi bị hổ thẹn. [†] Đá làm nền - I Cô rinh tô 5 : 9 – 11 9 Vả, chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời cày, nhà của Đức Chúa Trời xây. 10 Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi, tôi đã lập nền như một tay thợ khéo, mà có kẻ khác cất lên trên; nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó. 11 Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jêsus Christ.
3. Giê rê mi 27 : 6 Nê bu cát nết xa là đầy tớ Chúa 6 Bây giờ, ta đã phó mọi đất nầy trong tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đầy tớ ta; ta cũng ban những thú vật ngoài đồng cho người đặng giúp việc người nữa. Gia cơ 1 : 1 chúc bình an!
4. Khải huyền 18 : 16, 19 : 8 mặc vải gai mịn, việc công bình 16 Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết!
8 đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ).
Lu ca 16 : 19, Xuất ê díp tô ký 39 : 1 : màu tía và màu điều 19 Có một người giàu mặc áo tía và áo bằng vải gai mịn, hằng ngày ăn ở rất là sung sướng. 1 Họ dùng chỉ màu tím, đỏ điều, đỏ sặm mà chế bộ áo định cho sự tế lễ trong nơi thánh, và bộ áo thánh cho A-rôn, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Gióp 23 : 10 : vàng, giá trị tinh sạch 10 Nhưng Chúa biết con đường tôi đi; Khi Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng.
Ca thương 4 : 1 mình mẩy sáng ngời 7 Các người sang trọng của nó tinh hơn tuyết, trắng hơn sữa. Nước da đỏ hồng hơn san hô, mình mẩy sáng ngời như bích ngọc.
Ma thi ơ 13 : 45 – 46 : hột châu giống như nước Thiên đàng và lời Chúa 45 Nước thiên đàng lại giống như một người lái buôn kiếm ngọc châu tốt, 46 khi đã tìm được một hột châu quí giá, thì đi bán hết gia tài mình mà mua hột châu đó.
5. II Sử ký 5 : 11 – 14 Kẻ thổi kèn, thổi sáo, đàn cầm, đánh nhạc, khung cảnh thờ phượng ngợi khen cảm tạ Chúa. 11 Khi những thầy tế lễ ra khỏi nơi thánh (vì phàm thầy tế lễ ở đó đều đã dọn mình ra thánh sạch, mà chưa giữ theo ban thứ nào), 12 và các người ca hát trong dân Lê-vi, tức A-sáp, Hê-man, Giê-đu-thun, cùng con trai và anh em họ, đương mặc quần áo bằng vải gai mịn, cầm chập chỏa, đàn sắt, và đàn cầm, đều đứng ở phía đông bàn thờ, với một trăm hai mươi thầy tế lễ thổi kèn. 13 Xảy khi kẻ thổi kèn và kẻ ca hát đồng thinh hòa nhau như một người, mà khen ngợi cảm tạ Đức Giê-hô-va, và khi họ trổi tiếng kèn, chập chỏa, nhạc khí lên khen ngợi Đức Giê-hô-va, rằng: Ngài từ thiện, lòng thương xót Ngài hằng có đời đời, thì đền của Đức Giê-hô-va bị mây lấp đầy; 14 đến đỗi những thầy tế lễ vì mây không thể đứng đó hầu việc được, vì sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy lấp đền của Đức Chúa Trời.
6. Giê rê mi 25 : 10 Tiếng cối xay, ánh sáng đèn, vợ chồng mới cưới. Ý nghĩa sự bình an, phước hạnh của đất nước Y sơ ra ên và câu chyện chàng rể và người nữ đồng trinh. 10 Vả, ta sẽ làm cho trong vòng chúng nó hết tiếng reo vui và kêu mừng, hết tiếng của rể mới và dâu mới, hết tiếng ầm ầm của cối xay và ánh sáng của đèn.
7. Sự bình an của Ba by lôn đã che chở bình an cho dân Giu đa Xem Giê rê mi 29 : 4 – 7 Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán cùng những kẻ mà ta đã khiến bị bắt làm phu tù từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn như vầy: 5 Hãy xây nhà và ở; hãy trồng vườn và ăn trái; 6 hãy lấy vợ, đẻ con trai và con gái; hãy lấy vợ cho con trai, gả chồng cho con gái, hầu cho chúng nó đẻ ra con trai và con gái. Số các ngươi khá thêm nhiều ra ở đó và đừng kém đi. 7 Hãy tìm sự bình an cho thành mà ta đã khiến các ngươi bị đày đến làm phu tù, hãy vì nó cầu nguyện Đức Giê-hô-va; vì sự bình an các ngươi nhờ sự bình an của nó.
8. Giê rê mi 51 : 8 – 9 Muốn lấy nhủ hương mà chữa lành cho nó nhưng không chữa được nữa. Ý nghĩa đó là thuốc thánh chữa lành bệnh tội lỗi của Ba by lôn. 8 Ba-by-lôn thình lình bị đổ xuống và tan nát. Hãy vì nó than khóc! Hãy lấy nhũ hương chữa đau đớn nó, hoặc nó được chữa lành chăng? - 9 Chúng ta vẫn muốn chữa lành cho Ba-by-lôn, song nó không được chữa. Hãy lìa bỏ nó, ai nấy trở về xứ mình; vì sự phán xét nó thấu đến tận trời và lên tận vòng khung.
9. Giê rê mi 24 : 1 – 10 1 Đức Giê-hô-va tỏ cho tôi, nầy, có hai giỏ trái vả để trước đền thờ Đức Giê-hô-va. Ấy là sau khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã bắt Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, cùng các quan trưởng Giu-đa, với các thợ nghề và thợ rèn từ thành Giê-ru-sa-lem đem về nước Ba-by-lôn làm phu tù. 2 Một trong hai giỏ thì đựng những trái vả rất tốt, như trái vả đầu mùa; còn giỏ kia thì đựng trái xấu lắm, đến nỗi không có thể ăn được. 3 Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hỡi Giê-rê-mi, ngươi thấy gì? Tôi thưa: Thấy trái vả, những trái tốt thì rất tốt, còn những trái xấu thì rất xấu, xấu đến nỗi không thể ăn được. 4 Bấy giờ có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 5 Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Như những trái vả tốt nầy, ta cũng sẽ xem những kẻ phu tù Giu-đa, mà ta đã sai từ nơi nầy đến trong đất người Canh-đê, cho chúng nó được ích. 6 Ta sẽ để con mắt ta trên chúng nó làm ích cho, và ta sẽ đem họ về trong xứ nầy, lập lên mà không phá đi nữa, trồng lại mà không nhổ đi nữa. 7 Ta sẽ ban cho chúng nó tấm lòng hay nhận biết ta là Đức Giê-hô-va. Chúng nó sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó; vì chúng nó sẽ hết lòng trở về cùng ta. 8 Còn như Sê-đê-kia, vua Giu-đa, các quan trưởng nó và dân sót lại của thành Giê-ru-sa-lem, là dân còn ở trong đất nầy, và những kẻ ở trong đất Ê-díp-tô, thì người ta làm cho những trái vả xấu quá ăn không được thể nào, ta cũng sẽ làm cho chúng nó thể ấy. 9 Ta sẽ phó chúng nó để bị ném đi ném lại giữa mọi nước thế gian cho chúng nó chịu khổ, chịu mắng nhiếc, xoi bói, cười chê, rủa sả, trong mọi xứ mà ta sẽ đuổi chúng nó đến. 10 Ta sẽ sai gươm dao, đói kém, ôn dịch giữa chúng nó, cho đến chừng chúng nó bị hủy diệt khỏi đất ta đã ban cho chúng nó cùng tổ phụ chúng nó.
Ý nghĩa 2 giỏ trái vả chỉ về 2 số phận của dân - Trái vả rất tốt nằm trong đất Ba by lôn nên được phước - Trái vả rất xấu bị ném mọi nước trong thế gian, bị gươm đao, đói kém, ôn dịch mà chết, (xem thống kê của Liên hiệp quốc ) cuốn sách : Những điềm báo về ngày tận thế của MS Nguyễn Văn Bình ( nói về 2 số phận của dân Do Thái từ năm 70 SC đến nay).
v Những câu hỏi tìm hiểu về đất nước và dân tộc nào có hình ảnh giống như Ba by lôn mà Kinh thánh đã nói :
- Đất nước nào có tên Ba by lôn lớn ( nghĩa lộn xộn về ngôn ngữ & dân tộc) ?
- Đất nước nào có địa lý là đồng bằng rộng lớn như xứ Si nê a ?
- Đất nước nào được gọi là chủ mẫu các nước ?
- Con người của dân tộc nào được sung sướng ở yên ổn ?
- Đất nước nào là sự vinh hiển các nước, sự hoa mĩ của lòng kiêu ngạo ?
- Đất nước nào là đất thương mại, thành của buôn bán ?
- Đất nước nào là thành mà cả thiên hạ ngợi khen ?
- Đất nước nào mà có sự quá xa hoa của nó ?
- Đất nước nào được gọi là thành cường thạnh ?
- Đất nước nào kể như là cái chén vàng (phước hạnh) trong tay Chúa ?
- Đất nước nào mà Chúa kể như là đầy tớ của Chúa ?
- Đất nước nào mà thế gian sẽ lấy đá làm góc cùng đá làm nền ?
- Đất nước nào có kẻ gieo giống và kẻ cầm liềm ?
- Đất nước nào có biểu tượng là chim ưng lớn (xem cờ và tiền) ?
- Đất nước nào mà vụt lớn một cách lạ thường như cái cây đến trời ?
- Đất nước nào mà đầy trang sức thánh thuộc linh ?
- Đất nước nào có sự bình an để che chở cho dân Y sơ ra ên ?
- Đất nước nào mà có phân nữa dân Do Thái cư ngụ mà được phước và thành công ? (giỏ trái vả rất tốt)
- Đất nước nào mà Chúa dùng để chinh phục tất cả các nước khác trên thế gian ?
- Đất nước nào có đời sống vật chất và thuộc linh được kể là xa hoa sung sướng & như nước Thiên đàng ?
- Đất nước nào mà chưa hề bị đất nước khác đánh bao giờ ?
- Đất nước nào trong thời kỳ các dân ngoại được chọn để rao giảng sứ điệp Tin lành khắp thế gian ?
- Đất nước nào mà lòng người mơ ước ?
- Đất nước nào trở nên xấu xa như đàn bà tà dâm (thuộc linh) ?
- Đất nước nào có bệnh dâm dục sắc lạ (luyến ái) sẽ giống như Sô đôm và Gô mô rơ?
- Đất nước nào mà Chúa sẽ rao ý chỉ huỷ diệt sau cùng các nước trong thế gian và bảo dân Chúa chạy ra ?
- Đất nước nào muốn kiêu ngạo mà đòi sự sống ơ trên trời ?
- Đất nước nào chuyên đi đánh các nước khác và đem nhiều tội lỗi dâm dục, xấu xa đến cho họ ?
Muốn tìm hiểu rõ về Ba by lôn trong Kinh thánh hãy xem các sách
Nghiên cứu tài liệu về điềm báo về ngày tận thế của MS Nguyễn Văn Bình từ trang 263 – 281 nói về 2 số phận dân Do Thái đối chiếu với Giê rê mi 24 : 1 – 10 và Giê rê mi 29 : 4 – 7 .
|
|||
Forum mình vắng quá.
Hình như kể từ sau một cuộc cãi cọ giữa các bạn Tin Lành và Công Giáo nên dạo này chúng ta không có gì để nói nữa, anh em ơi, về đây thăm lại nhà cũ đi nào.
>Tinh thần Babylon
Cảm ơn bài của ngCongbinh
Quả thần học của bạn rất cao siêu vì cắt dán được rất nhiều câu. Trong Cựu Ước lẫn Tân Ước. Tôi xin bạn thử xét theo 2 vấn đề sau đây:
1). Bạn thử tìm xem sự "mầu nhiệm" đã dấu kín từ đời này sang đời khác là gì mà Phao-lô đã tiết lộ cho chúng ta. 2). Ba-by-lôn của bạn đang hiểu chỉ sự nhìn nhận của bạn vào thế giới hư nát đó là vật chất. Bạn thử cầu nguyện và nhìn nhận lại bởi thuộc linh từ tháp Ba-ben -> Ba-by-lôn nhỏ -> Ba-by-lôn Lớn bạn sẽ thấy sự khủng khiếp mà Chúa Giê-su muốn nói trong Khải Huyền. Ba-by-lôn Lớn này không đâu xa, có khi HT bạn hay tôi đang nhóm đang dự phần vào nó vì nó vô hình và chuyển biến liên tục.
Dzung
trả lời thắc mắc Sứ điệp Babylon
Trước hết khẳng định với bạn đây là sứ điệp phán xét Babylon lớn từ mạng lệnh của ĐCT phán chứ không phải bởi sự nghiên cứu hay giỏi suy ngẫm của 1cá nhân nào hiểu rõ về Kinh thánh theo như bạn nói là cắt dán. Vì trước khi phán xét tai họa cho Babylon thì Chúa luôn bày tỏ lòng nhân từ của Ngài
6
Kèn thổi trong thành, thì dân sự há chẳng sợ sao? Sự tai vạ há có xảy ra cho một thành kia nếu mà Đức Giê-hô-va chẳng làm?
7
Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri.
8
Khi sư tử gầm thét, thì ai mà chẳng sợ? Khi Chúa Giê-hô-va đã phán dạy, thì ai mà chẳng nói tiên tri? (Amốt 3: 6-8) cho nên Chúa cho nước Babylon có cơ hội ăn năn nhưng họ đã khước từ và chống đối lại. Giống như khi xưa tiên tri Giêrêmi nhận mặc khải của Chúa là rao báo sứ điệp hủy diệt thành thánh và dân thánh (Giêrusalem) vì họ phạm tội trọng, lúc đó cả đất nước từ vua, quan trưởng, thầy tế lễ, thầy thông giáo, tiên tri và dân sự đều chống đối lại sứ điệp đó
1
Lúc Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua nước Giu-đa, bắt đầu trị vì, có lời nầy từ Đức Giê-hô-va phán ra.
2
Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi khá đứng trong hành lang nhà Đức Giê-hô-va, rao những lời ta truyền ngươi nói lại cho các thành của Giu-đa đã đến đặng thờ lạy trong nhà Đức Giê-hô-va; chớ bớt một tiếng.
3
Hoặc giả chúng nó nghe ngươi, và ai nấy sẽ từ đường xấu mình trở lại; hầu cho ta ăn năn về họa mà ta định làm cho chúng nó, vì sự dữ của việc làm chúng nó.
4
Vậy ngươi khá bảo rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu các ngươi không khứng nghe ta, mà bước theo luật pháp ta đã đặt trước mặt các ngươi;
5
nếu các ngươi không nghe lời của các đầy tớ ta, là các tiên tri mà ta sai đến cùng các ngươi, và đã dậy sớm sai đến, nhưng các ngươi không nghe họ, -
6
thì ta sẽ khiến nhà nầy nên như Si-lô, và sẽ khiến thành nầy nên sự rủa sả cho mọi nước trên đất.
7
Các thầy tế lễ, các tiên tri, và cả dân sự đều nghe Giê-rê-mi truyền những lời ấy trong nhà Đức Giê-hô-va.
8
Khi Giê-rê-mi nói xong mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền mình nói cho cả dân sự, thì các thầy tế lễ, các tiên tri, và cả dân sự đều bắt lấy người và nói rằng: Ngươi chắc sẽ chết!
9
Sao ngươi nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói tiên-tri rằng: Nhà nầy sẽ trở nên như Si-lô, thành nầy sẽ hoang vu và không dân ở? - Bấy giờ cả dân sự nhóm lại cùng Giê-rê-mi trong nhà Đức Giê-hô-va.
10
Các quan trưởng Giu-đa nghe những sự ấy, bèn từ trong cung vua lên nhà Đức Giê-hô-va, ngồi tại lối vào của cửa mới nhà Đức Giê-hô-va.
11
Bấy giờ các thầy tế lễ và các tiên tri nói với các quan trưởng cùng cả dân sự rằng: Người nầy đáng chết; vì đã nói tiên tri nghịch cùng thành nầy, như chính tai các ngươi đã nghe.
12
Nhưng Giê-rê-mi đáp cùng các quan trưởng và cả dân sự rằng: Ấy là Đức Giê-hô-va sai ta đặng nói tiên tri mọi lời nghịch cùng nhà nầy và thành nầy, mà các ngươi đã nghe.
13
Bây giờ các ngươi hãy sửa lại đường lối và việc làm của mình, hãy vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì Đức Giê-hô-va sẽ ăn năn về tai họa mà Ngài đã rao ra nghịch cùng các ngươi.
14
Về phần ta, nầy, ta ở trong tay các ngươi, hãy làm cho ta điều các ngươi cho là phải và đáng làm.
15
Dầu vậy, khá biết chắc rằng các ngươi giết ta, thì các ngươi cùng thành nầy và dân cư nó sẽ gánh lấy huyết vô tội. Vì Đức Giê-hô-va thật đã sai ta đến cùng các ngươi, khiến ta nói mọi lời nầy vào tai các ngươi (Giêrêmi 26: 1-15) Họ cho Giêrêmi là tiên tri giả và họ luôn tự hào về mình là dân thánh nên không hề bị điều đó bao giờ. Lúc đó cả đất nước tuyển dân mà có đời sống bại hoại, gớm ghiếc thuộc linh lẫn thuộc thể 29 Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ chẳng thăm phạt về những sự ấy sao? Thần ta chẳng trả thù một nước dường ấy sao? 30 Trong đất nầy đã xảy ra sự lạ lùng đáng gớm. 31 Những kẻ tiên tri nói tiên tri dối, các thầy tế lễ bởi đó mà cầm quyền! Dân ta đều lấy làm ưa thích. Khi đến cuối cùng, các ngươi sẽ làm thế nào? (Giêrêmi 5: 29-31)
Cho nên trong thời kỳ sau rốt Chúa lại phán xét nước Babylon cũng giống như vậy và nội dung nước Babylon lớn là nước nào thì bạn đã đọc và hiểu rõ rồi
2.
Sự mầu nhiệm đó đã được Chúa bày tỏ từ thời kỳ Cựu ước ở trong sách Đaniên 2: 26-30 qua chiêm bao của vua Nê-bu-cát-nết-sa và tiên tri Đaniên cho biết những gì xảy ra trong Cựu ước thì về sau rốt sẽ xuất hiện tiếp một nước Babylon lớn giống như vậy
3.
Còn ý nghĩa về 1 cây cao lớn lạ thường ngọn nó chấm đến trời và trái sai nuôi mọi loài xác thịt, chim trời, thú đồng đến đó núp bóng và đậu trên nhành nó có ý nghĩa là gì? Chắc hẳn bạn phải biết rằng có quốc gia nào trên thế giới lại giàu mạnh kinh tế một cách lạ thường và khả năng nó lại nuôi cả thế giới. Chim trời, thú đồng thì chỉ về các dân tộc các nước(không tin Chúa) chạy tới đó được định cư và được núp bóng bởi sự che chở của vua Babylon, và tên của quốc gia đó lại khác lạ là không của riêng một dân tộc nào hết mà của nhiều dân tộc tụ tập lại trở thành 1 quốc gia. Khi Chúa hủy diệt Babylon lớn thì người ta sẽ không còn tìm đạo lẽ thật tại nơi đó nữa 26 Người ta sẽ chẳng từ nơi ngươi lấy đá làm góc cùng đá làm nền nữa, nhưng ngươi sẽ là hoang vu đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy (Giêrêmi 51: 26) và diệt luôn những người rao giảng dối trá 16 Hãy diệt những kẻ gieo giống trong Ba-by-lôn, cùng kẻ cầm liềm trong mùa gặt; vì sợ gươm kẻ ức hiếp, ai nấy sẽ trở về dân mình, ai nấy sẽ trốn về đất mình (Giêrêmi 50: 16)
Khi xưa thành Giê-ru-sa-lem bị đoán phạt nặng nề vì sự dối trá của các thầy tế lễ và các tiên tri thể nào thì ngày sau rốt xảy ra cho thành Babylon thể đấy 11 Mắt ta hao mòn vì chảy nước mắt, lòng ta bối rối; Gan ta đổ trên đất, vì sự hủy diệt con gái dân ta. Vì con trẻ và các con đương bú, ngất đi nơi các đường phố trong thành. 12 Chúng nó nói cùng mẹ mình rằng: tìm thóc và rượu ở đâu? Khi ngất đi như kẻ bị thương, nơi các đường phố trong thành; Và khi chúng nó tắt hơi trên lòng mẹ mình. 13 Ta làm chứng gì cho ngươi? Hỡi gái Giê-ru-sa-lem, ta kể thí dụ chi? Ta lấy gì sánh cùng ngươi đặng yên ủi ngươi, hỡi con gái đồng trinh Si-ôn? Sự phá hại ngươi to như biển: ai sửa sang lại được? 14 Các tiên tri ngươi xem cho ngươi những sự hiện thấy giả dối và ngu dại. Chẳng tỏ ra tội lỗi ngươi, đặng đem phu tù ngươi trở về. Chỉ thấy cho ngươi những lời tiên tri dối và sự làm cớ cho ngươi bị đuổi (Ca thương 2: 11-14)
13 Ấy là vì cớ tội lỗi của các tiên tri nó, và sự gian ác của các thầy tế lễ nó. Họ đã đổ giữa nó huyết của người công bình. 14 Họ đi quanh dọc đường như kẻ mù, bị máu làm ô uế, Đến nỗi không ai có thể rờ đến áo xống họ. 15 Người ta kêu bảo chúng rằng: Hãy xê ra, chẳng sạch! Hãy xê ra! Xê ra! Đừng rờ đến! Khi họ trốn tránh đi lưu lạc, dân ngoại kêu rằng: Chúng nó sẽ không trú ngụ ở đây nữa. 16 Cơn giận Đức Giê-hô-va đã làm tan lạc chúng, Ngài chẳng đoái xem nữa. Chúng nó chẳng nể mặt thầy tế lễ, cũng chẳng kính người già cả (Ca thương 4: 13-16)
Trong Khải huyền tại sao gọi nó là cái thành lớn hành quyền trên các vua thế gian (khải huyền 17-18). Vì chữ thành tức là kinh thành hay gọi là thủ đô của cả thế gian. Nó được Chúa gọi là hoàng hậu (nữ vương) là vợ thuộc linh của Chúa và nó tự nghĩ không bị góa bụa tức là chồng mình không bỏ bao giờ
Kết luận: bây giờ bạn sẽ tự có câu trả lời là đất nước nào có đầy đủ những đặc điểm mà Kinh thánh mô tả, và tại sao cuộc đời bạn có cuộc hành trình di cư như vậy? tại sao bạn lại có khả năng chia xẻ kinh tế, tài chánh cho người thân bạn?
Cuối cùng có lời khuyên cho bạn và những ai quan tâm tới sứ điệp này vì thì giờ phán xét và ứng nghiệm đã gần rồi. Chúa đã cho nước Babylon được hưng thịnh và vinh hiển chỉ 70 năm mà thôi, kể từ khi dân Do Thái tập trung đến đó để phục vụ 11 Cả đất nầy sẽ trở nên hoang vu gở lạ, các nước nầy sẽ phục sự vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm. 12 Đức Giê-hô-va phán: Khi bảy mươi năm ấy sẽ mãn, ta sẽ phạt vua Ba-by-lôn và dân người, vì cớ tội ác chúng nó. Ta sẽ phạt xứ người Canh-đê và biến thành một nơi hoang vu đời đời. 13 Phàm lời ta đã phán nghịch cùng đất ấy, tức lời chép trong sách nầy, là lời Giê-rê-mi đã nói tiên tri nghịch cùng muôn nước, thì sẽ xảy đến cho đất ấy. 14 Vả, sẽ có nhiều nước và vua lớn bắt chính người Canh-đê làm tôi mọi, và ta sẽ báo chúng nó theo việc làm của chúng, và theo việc bởi tay chúng làm ra (Giêrêmi 25: 11-14)
Lời kêu gọi của Chúa: dân nước nào hãy trở về dân mình 7 Ba-by-lôn vốn là một cái chén vàng trong tay Đức Giê-hô-va, làm cho say cả đất; các nước đã uống rượu nó, vì đó mà trở nên điên cuồng. 8 Ba-by-lôn thình lình bị đổ xuống và tan nát. Hãy vì nó than khóc! Hãy lấy nhũ hương chữa đau đớn nó, hoặc nó được chữa lành chăng? - 9 Chúng ta vẫn muốn chữa lành cho Ba-by-lôn, song nó không được chữa. Hãy lìa bỏ nó, ai nấy trở về xứ mình; vì sự phán xét nó thấu đến tận trời và lên tận vòng khung (Giêrêmi 51: 7-9)
Xin khẳng định đây là sứ điệp chứ không phải là đề tài tranh luận hay nghiên cứu
Ngày nay dân sự của Chúa nhìn nhận lẽ thật (lời Chúa) nhưng không chấp nhận sự thật vì họ hiểu Kinh thánh nói về Babylon là nước nào nhưng họ không chấp nhận từ bỏ đất nước Babylon. Lý do: trái của nó mà mọi người đều mơ ước 14 Các thứ trái mà lòng ngươi mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa (Khải huyền 18: 14)
HT tại Bẹt-Găm
Kinh Thánh: Khải-thị 2:12-17 "Cùng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Bẹt-găm rằng: Nầy là lời phán của Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi: Ta biết nơi ngươi ở; đó là ngôi của quỉ Sa-tan; ngươi đã vững lòng tôn danh ta, không chối đạo ta; dầu trong những ngày đó, An-ti-ba, kẻ làm chứng trung thành của ta đã bị giết nơi các ngươi, là nơi Sa-tan ở. Nhưng ta có điều quở trách ngươi; vì tại đó, ngươi có kẻ theo đạo Ba-la-am, người ấy dạy Ba-lác đặt hòn đá ngăn trở trước mặt con cái Y-sơ-ra-ên, đặng dỗ chúng nó ăn thịt cúng thần tượng và rủ ren làm điều dâm loạn. Ngươi lại cũng có những kẻ theo đạo Ni-cô-la. Vậy, hãy ăn năn đi, bằng chẳng, ta sẽ đến mau kíp cùng ngươi, lấy thanh gươm ở miệng ta mà giao chiến cùng chúng nó. Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh: Kẻ nào thắng, ta sẽ ban cho ma-na đương giấu kín; và ta sẽ cho nó hòn sỏi thắng, trên đó có viết một tên mới, ngoài kẻ nhận lấy không ai biết đến."
Hội-thánh tại Ê-phê-sô là hội-thánh ở vào cuối thời các sứ đồ, là hội-thánh trước khi sứ đồ Giăng qua đời, tức hội-thánh mà Giăng đề cập đến như là vào thời kỳ sau rốt, và là hội-thánh được nhắc đến trong thư Phi-e-rơ thứ nhì và Ti-mô-thê thứ nhì. Chúng ta đã thấy điều này. Sau đó trong chương kế tiếp, chúng ta thấy thời kỳ hội-thánh bị bắt bớ, đó là lời tiên tri về hội-thánh tại Si-miệc-nơ mà Chúa đã bày tỏ cho chúng ta. Bây giờ chúng ta hãy xem xét hội-thánh tại Bẹt-găm. Chữ Bẹt-găm có nghĩa là “hôn nhân” hay “kết hiệp”. Ở đây, chúng ta thấy hội-thánh đã rẽ qua một bước ngoặt khác là như thế nào. Tôi nghĩ các tín đồ lúc bấy giờ, khi đọc đến Bẹt-găm, có lẽ họ không hiểu Thư Tín này nói gì; nhưng ngày nay khi nhìn lại lịch sử hội-thánh, chúng ta thấy rất rõ. Gibbon, một sử gia, đã nói rằng nếu người ta có ý giết hết các Cơ-đốc nhân trong thành phố Rô-ma thì thành phố này đã trở nên hoang vắng. Sự bắt bớ lớn nhất trên toàn thế giới cũng không thể hủy diệt hội-thánh được. Vì thế, Sa-tan đã thay đổi chiến thuật tấn công của hắn. Không những thế gian này ngưng chống đối hội-thánh, mà ngay cả một đế quốc lớn nhất trên thế giới, là Rô-ma, cũng chấp nhận Cơ-đốc giáo là quốc giáo. Chuyện kể rằng Constantine nằm mơ thấy một cây thập tự trên đó có viết dòng chữ: “Hãy chinh phục bởi dấu hiệu này”. Ông khám phá ra rằng thập tự giá là dấu hiệu của Cơ-đốc giáo nên đã chấp nhận Cơ-đốc giáo là quốc giáo. Ông khuyến khích mọi người làm báp-têm và hễ ai chịu báp-têm đều được ban cho hai chiếc áo trắng và vài miếng bạc. Vì hội-thánh đã kết hiệp với thế gian nên hội-thánh trở nên sa bại. Trong chương trước, chúng ta đọc thấy hội-thánh tại Si-miệc-nơ là hội-thánh chịu khổ và Chúa không nói gì để quở trách hội-thánh này. Ở đây, hội-thánh Bẹt-găm và thế gian kết hiệp với nhau tạo nên một quốc giáo lớn nhất. Theo con người, đây là một sự tiến triển; nhưng Chúa thì không vui lòng. Khi hội-thánh tự liên hiệp với thế gian, thì chứng cớ của hội-thánh bị sụp đổ. Hội-thánh là người kiều cư trên đất. Thuyền ở trên nước thì được, chứ nước ở trong thuyền thì không được chút nào. “Đấng có thanh gươm bén hai lưỡi... ” (Khải 2:12). Chúa phán chính Ngài là Đấng có thanh gươm bén hai lưỡi. Đây là sự phán xét. Hội-thánh đã sa bại, nhưng điều này không có nghĩa là vào thời đó, hội-thánh không còn chứng cớ gì. Dù ở trong hoàn cảnh nào, thực tại của hội-thánh vẫn luôn luôn hiện hữu. Bẹt-găm là hội-thánh tiếp liền sau Si-miệc-nơ. Vậy thì, hội-thánh này đang ở trong tình trạng nào? Trong câu 13, Chúa phán: “Ta biết nơi ngươi ở, tức làcho có ngôi của Sa-tan”. Chúa nhận ra tình cảnh khó khăn của hội-thánh Bẹt-găm. Vì hội-thánh này ở ngay chỗ có ngôi của Sa-tan, nên việc giữ gìn chứng cớ có phần nào khó khăn. Ở đây có một người rất đặc biệt, đó là “An-ti-ba làchư ng nhân của Ta, kẻ trung tín của Ta…”. Chúng ta khó có thể tìm thấy tên người này trong lịch sử; vì đây là lời tiên tri nên chúng ta cần phải khám phá ý nghĩa của tên này. Anti có nghĩa là “chống lại”; ba (Pas) là “tất cả”. Có một người trung tín, tên An-ti-ba, là người nghịch lại tất cả; người ấy chống lại mọi điều. Điều này không có nghĩa là người ấy cố tình gây ra những phiền phức, khó khăn bất kể mọi tình trạng, nhưng có nghĩa là người ấy đứng về phía Đức Chúa Trời để chống lại mọi sự. Dĩ nhiên người ấy phải trở nên người tuận đạo. Lịch sử không biết đến tên người ấy, nhưng Chúa biết. Nói về người trung tín đã bị giết này, trong câu 13, Chúa phán: “Ngươi giữ vững danh Ta, không chối đạo (đức tin — RcV) Ta”. Có hai vấn đề được đề cập: danh Chúa và đức tin của Chúa. Con cái của Đức Chúa Trời là những người được Ngài lựa chọn từ giữa vòng dân Ngoại bang cho danh của Chúa. Có một sự khác biệt cơ bản giữa hội-thánh và tôn giáo. Trong tôn giáo, chỉ cần chấp nhận những sự dạy dỗ là đủ; nhưng trong hội-thánh, thật vôngh ĩa nếu một người không tin nhận Chúa. Danh Chúa bày tỏ chính Ngài. Đây là một điểm đặc biệt. Không những thế, danh này cũng bày tỏ cho chúng ta rằng Ngài đã ở đây và đã đi về [trời], Ngài đã chết và sống lại; vì vậy Ngài để danh Ngài lại giữa vòng chúng ta. Nếu đánh mất danh Chúa, chúng ta không còn chứng cớ nữa. Hội-thánh tại Bẹt-găm đã nhận lãnh danh Chúa. Có một điều mà con cái Đức Chúa Trời cần đặc biệt chú ý là chúng ta phải bày tỏ chính mình là những người đang ở trong danh Chúa. Danh này là danh đặc biệt, giữ chúng ta khỏi đánh mất chứng cớ. Ngài cũng phán: “Ngươi không chối đức tin Ta”. Ở đây, chữ “đức tin” trong Hi-văn là Pistin, có nghĩa là “niềm tin”. Đây không phải là một niềm tin thông thường mà là niềm tin duy nhất, niềm tin khác biệt với mọi niềm tin khác. Chúa phán, các ngươi đã không chối bỏ đức tin duy nhất của Ta. Hội-thánh không phải là điều gì đó của triết lý, của khoa học tự nhiên, của đạo đức hay tâm lý học; tất cả những điều ấy không thuộc hội-thánh. Hội-thánh là điều gì đó của niềm tin, một điều gì đó thuộc đức tin. “Các ngươi đã không chối đức tin Ta”. Câu này có nghĩa gì? Có nghĩa là “Các ngươi đã không chối việc tin nơi Ta”. Con cái Đức Chúa Trời phải giữ vững niềm tin này. Niềm tin của chúng ta vào Chúa Giê-su không được thay đổi gì cả. Bởi đức tin này, chúng ta được phân rẽ khỏi thế gian. Như vậy, có hai điều Chúa khen hội-thánh, đó là “đã giữ vững danh Ta vàchẳn g chối đức tin Ta”. “Nhưng Ta có vài điều trách ngươi, vì tại đó ngươi có kẻ giữ theo giáo lý của Ba-la-am là người dạy Ba-lác gieo hòn đá vấp chơn trước mặt con cái Y-sơ-ra-ên, khiến họ ăn của cúng hình tượng vàph ạm gian dâm” (c. 14). Ba-la-am là một người Ngoại bang; chúng ta không biết tại sao Đức Chúa Trời cũng gọi ông là tiên tri. Giống như trong trường hợp của Sau-lơ, Linh của Đức Chúa Trời thúc đẩy ông, nhưng lại không vào bên trong ông. Vì dân Y-sơ-ra-ên cứ liên tục chiến thắng nên Ba-lác sợ hãi và đi cầu cứu Ba-la-am. Ba-lác nói với Ba-la-am: “Ngươi là một tiên tri, vậy hãy rủa sả Y-sơ-ra-ên đi”. Ba-la-am ham món tiền mà Ba-lác đã dâng cho mình nên muốn đi; mặc dù lúc đầu Đức Chúa Trời có ngăn trở nhưng sau đó, Ngài cho phép. Nhưng Ba-la-am không tìm được cách nào để rủa sả dân Y-sơ-ra-ên được. Tuy nhiên, vì đã nhận tiền của Ba-lác mà lại không làm được việc, nên ông cảm thấy ái ngại, bèn nghĩ ra một mưu kế mà theo đó những người nữ Mô-áp quyến rũ dân Y-sơ-ra-ên. Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên đã lấy những người nữ Mô-áp và kết hiệp với họ. Những người nữ Ngoại bang này cũng mang theo hình tượng của mình khiến cho dân Y-sơ-ra-ên không những phạm gian dâm mà còn thờ lạy hình tượng. Đức Chúa Trời đã nổi giận và tiêu diệt hai mươi bốn ngàn người Y-sơ-ra-ên, còn dân Mô-áp thì vẫn bình yên vô sự. Trong Dân-số ký chương 25, chúng ta thấy những người nữ Mô-áp kết hiệp với dân Y-sơ-ra-ên nhưng mãi đến chương 31, chúng ta mới khám phá được mưu đồ này là do Ba-la-am bày ra. Đức Chúa Trời cho chúng ta biết Bẹt-găm có nghĩa là kết hôn với thế gian. Ban đầu, thế gian chống nghịch với hội-thánh; bây giờ, thế gian và hội-thánh lại kết hôn với nhau. Tôi đã nhiều lần nói rằng ý nghĩa của chữ “hội-thánh” (ekklesia) là những người được gọi ra khỏi, không kết hiệp, không đặt mình vào trong thế gian mà phải được biệt riêng ra, được gọi ra; đó chính là hội-thánh. Phương cách của Ba-la-am là phá vỡ sự phân rẽ giữa hội-thánh và thế gian, và hậu quả là sự thờ lạy hình tượng. Ở đây, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến hai điều: gian dâm và thờ hình tượng. Thật lạ lùng khi hai điều này lại đi chung với nhau! Trong thư Cô-rin-tô thứ nhất, hai vấn đề này cũng được đề cập chung với nhau. Về mặt xác thịt, đây là hai điều Đức Chúa Trời ghét; về mặt thuộc linh, đây cũng là hai điều Đức Chúa Trời ghét. Xin nghe Lời Chúa nói trong Gia-cơ 4:4: “Các ngươi chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao?” Kết hiệp với thế gian là điều Đức Chúa Trời rất ghét. Ma-môn (tiền tài) cũng đứng trong vị trí chống nghịch với Đức Chúa Trời: “Các ngươi không thể hầu việc cả Đức Chúa Trời lẫn tiền tài (nguyên văn: ma-môn) nữa” (Math. 6:24). Con người chỉ có thể hầu việc một trong hai. Ở đây, chúng ta thấy một điều hết sức quan trọng, đó là ma-môn chống nghịch với Đức Chúa Trời. Có nhiều hình tượng tồn tại chỉ vì ma-môn. Ngày nay, không có Cơ-đốc nhân nào giết người hay thờ hình tượng, nhưng nếu ham tiền, cậy trông vào quyền lực ma-môn thì tương đương với việc thờ lạy hình tượng. Ma-môn là nguyên tắc của hình tượng; Đức Chúa Trời muốn tách con người khỏi ma-môn. Gian dâm có liên hệ đến việc thờ hình tượng, còn tham tiền của thì liên hệ đến việc kết hiệp với thế gian. Tôi muốn đưa ra hai phương diện đối lập nhau trong Kinh Thánh, nếu thấy được phương diện tiêu cực thì anh em có thể nhận ra phương diện tích cực. Kinh Thánh luôn luôn đặt Sa-tan ở vị trí đối nghịch với Đấng Christ, xác thịt đối nghịch với Thánh Linh, còn thế gian và ma-môn đối nghịch với Đức Chúa Cha. Thế gian chống nghịch với Cha; đây là lý do tại sao 1 Giăng 2:15 chép: “Nếu ai thương yêu thế gian thì tình yêu thương Cha chẳng ở trong người ấy”. Ma-môn chống nghịch với Đức Chúa Trời. Hễ khi nào con người hầu việc ma-môn thì không thể hầu việc Đức Chúa Trời. Công việc của Ba-la-am là kết hiệp thế gian với hội-thánh. [Một khi chúng ta cho rằng] mình cần được Constantine đề cao thì đó chính là giáo lý của Ba-la-am. Không gì khó bằng việc giữ cho công tác của Ba-la-am khỏi bị đem vào hội-thánh. Ngày nay, hầu hết các con cái Đức Chúa Trời đều muốn làm lớn, muốn sở hữu nhiều hơn mà không cần lưu tâm đến sự thánh khiết và trong sạch. Vì vậy, họ đã chìu theo tội lỗi, chìu theo giáo lý của Ba-la-am và mặc cho danh Chúa bị chối bỏ. Trong bức thư này, Chúa đặc biệt nói đến Ba-la-am. Ông là người đầu tiên lợi dụng ân tứ để kiếm tiền. Trong Tân Ước có vài chỗ nhắc đến Ba-la-am. 2 Phi-e-rơ 2:15 nói Ba-la-am là người ham thích tiền lương bất chính; Giu-đe 11 thì lại chép rằng Ba-la-am là người ham đuổi theo tiền thưởng. Hãy suy xét điều này. Anh em có thể nào nghĩ rằng, khi hội-thánh tại Cô-rin-tômơ i Phao-lôđe n [hầu việc Chúa] thì điều đầu tiên họ bàn bạc với ông sẽ là vấn đề tiền lương không? Anh em có nghĩ rằng hội-thánh tại Giê-ru-sa-lem đã ký hợp đồng với Phi-e-rơ về một số tiền nào đó hằng năm không? Chúng ta không hề nghĩ những chuyện như vậy lại có thể xảy ra. Lúc đầu, những người làm việc cho Đức Chúa Trời đều trông cậy nơi Ngài về cuộc sống của họ, họ không đòi hỏi điều gì nơi con người và không nhận tiền bạc từ những người Ngoại bang (3 Giăng 7), nhưng đến thời Constantine, tất cả những người hầu việc Đức Chúa Trời đều nhận lương từ ngân khố quốc gia. Việc này đã bắt đầu vào khoảng năm 300 S.C. Hễ khi nào mọi người đều nhận lương thì phương cách của Ba-la-am đã được đưa vào. Phương cách của Ba-la-am không có chỗ trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Nếu anh em hỏi các sứ đồ lương hằng tháng của họ là bao nhiêu thì đó không phải là trò cười sau? Nhưng ngày nay, tình trạng này đã trở nên thông thường. Nếu có thể tin cậy Đức Chúa Trời, hãy ra đi hầu việc Ngài; còn nếu không tin cậy Đức Chúa Trời được thì đừng làm việc cho Ngài. Chúng ta phải đặc biệt chú ý đến vấn đề này trước mặt Chúa. Ngay sau Khải-thị 2:14, Chúa lại đề cập đến nhóm Ni-cô-la: “lại cũng... ”, hai chữ này tạo nên sự liên kết đặc biệt với những lời trước đó. Chúa bày tỏ rằng Ngài không chấp nhận giáo lý Ba-la-am; cũng vậy, Ngài không chấp nhận những sự dạy dỗ của nhóm Ni-cô-la. Trong Kinh Thánh, chính Đức Chúa Trời đã định hội-thánh phải như thế nào. Xin đọc Ma-thi-ơ 20:25-28: “Nhưng Giê-su bèn gọi họ mà phán rằng: Các ngươi biết rằng các vua chúa dân ngoại bang đều chủ trị họ và các quan lớn thì cầm quyền trên họ. Song trong các ngươi thì không phải như vậy đâu; trái lại, hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi thì phải làm tôi tớ của các ngươi, còn hễ ai trong các ngươi muốn làm đầu thì phải làm tôi mọi các ngươi; cũng như Con [Loài] Người đã đến không phải để được người ta phục sự, bèn để phục sự người ta, và phó mạng sống mình làm giá chuộc nhiều người”. Anh em thấy không? Hội-thánh được thiết lập bởi Chúa; hàng vua chúa và những người làm lớn đều không được phép làm điều đó. Chúa phán rằng hễ ai muốn làm lớn thì sẽ làm đầy tớ, còn hễ ai làm đầy tớ thì người ấy là người làm đầu. Việc làm lớn không căn cứ trên địa vị mà trên sự phụng sự. Nếu xem xét Ma-thi-ơ 23:8-11, anh em sẽ thấy rõ hơn về vấn đề này. Nguyên tắc căn bản của hội-thánh là: không thầy, không chủ, không cha; tất cả đều là anh em. Giáo lý Ba-la-am cùng những sự dạy dỗ của nhóm Ni-cô-la đã xuất hiện khi Constantine chấp nhận Cơ-đốc giáo. Ở đây, chúng ta thấy có hệ thống các cha; giữa các cha có một người đứng trên tất cả, đó là giáo hoàng. Khi người nào hôn chân ông, người ấy phải kêu lên: “Lạy Chúa tôi”. Đồng thời cũng có các viên chức cao cấp tại Va-ti-căn, cùng với những đại sứ và các bộ trưởng đại diện cho nhiều quốc gia. Có các vua và quan chức cao cấp, có những người được gọi là cha và thầy. Đây là sự dạy dỗ của nhóm Ni-cô-la mà chúng ta đã thấy. Vì lý do đó, những ai có địa vị và danh tiếng trong thế gian phải cẩn trọng để không mang những điều thuộc thế gian vào trong hội-thánh. Nếu không thể gọi người thấp hèn ngồi bên mình là “anh em” thì đã có điều gì đó bên trong anh em không đúng đắn rồi. Khi ở giữa vòng anh chị em mà không thể coi mình như một anh em hay chị em thì lúc ấy nhóm Ni-cô-la đã xuất hiện. Chữ laos (la trong Ni-cô-la) trong từ nguyên Nikaolaos (Ni-cô-la) của tiếng Hi-lạp, không chỉ có nghĩa là tín đồ thường (người thường) mà còn có nghĩa là người không có chuyên môn, tương phản với chuyên gia. Chẳng hạn, các bác sĩ y khoa là những người chuyên môn, còn những người không phải là bác sĩ thì được gọi là người thường, không chuyên môn. Khi một thợ mộc gặp một thợ mộc khác thì họ cùng ngành nghề và cả hai đều là người chuyên môn; khi gặp một người không phải là thợ mộc, họ gọi người ấy là người không chuyên môn, người thường, người không ở trong nghề. Ni-cô-la nghĩa là thắng hơn tín đồ thường, tức có một nhóm là người chuyên môn, là người ở trong nghề; còn những người khác thì không chuyên môn, là những người không ở trong nghề. Chúa nói đó là điều Ngài “chống lại”. Tình trạng của hội-thánh tại Ê-phê-sô khác với Bẹt-găm. Trong hội-thánh tại Ê-phê-sô chỉ có cách cư xử của nhóm Ni-cô-la, còn trong hội-thánh tại Bẹt-găm có sự dạy dỗ của nhóm Ni-cô-la. Để cách cư xử trở thành giáo lý phải mất một thời gian. Nếu một cách cư xử nào đó được biểu lộ và sau đó người ta rao giảng giáo lý về cách cư xử ấy, thì vấn đề không chỉ là khả năng cư xử như vậy mà còn là khả năng tạo ra một học thuyết căn cứ trên cách cư xử ấy. Đây là một bước xa hơn. Cách cư xử có trước giáo lý. Một khi giáo lý xuất hiện thì vấn đề đã trở nên nghiêm trọng. Vài năm trước, tôi gặp một thành viên trong Giáo Hội có vợ bé; vài người nhờ tôi khuyên anh ấy, nhưng không những anh ấy cho rằng việc lấy vợ bé là không sai mà còn đưa ra các trường hợp trong Kinh Thánh để che giấu tội lỗi mình. Việc lấy vợ bé là một cách sống, lối cư xử, còn việc trích dẫn Kinh Thánh là trở nên một giáo lý. Cũng vậy, ngày nay đã có sự dạy dỗ công khai về nhóm Ni-cô-la. Bẹt-găm đã hình thành giáo lý này như thế nào? Như chúng tôi đã nói, sau khi Constantine chấp nhận Cơ-đốc giáo là quốc giáo thì hội-thánh kết hôn với thế gian. Hễ là người Rô-ma thì một người có thể được làm báp-têm; vì vậy, hội-thánh đầy những người không tin. Từ ban đầu, chỉ có các anh em trong hội-thánh và tất cả đều là thầy tế lễ; nhưng sau đó một đám đông hỗn tạp tràn vào. Bảo họ hầu việc Đức Chúa Trời là điều không thể được. Để cho tiện, họ chọn một nhóm người, và nói: “Các anh hãy lo những vấn đề thuộc linh đi, còn những người khác có thể làm thường dân, tín đồ thường là được rồi”. Có nhiều người trở nên thành viên của hội-thánh mà lại không biết gì về Chúa Giê-su. Vì vậy, những ai biết Chúa Giê-su đều trở thành người chuyên môn; như thế, nhóm Ni-cô-la xuất hiện. Đây là kết quả không thể tránh được của việc kết hôn giữa thế gian và hội-thánh. Tại Ê-phê-sô, những gì nhóm Ni-cô-la đã làm chỉ là một cách cư xử, nhưng tại Bẹt-găm nó trở nên một loại giáo lý. Từ đó trở đi, có thể nói rằng hội-thánh là công việc của những người chuyên môn chứ không phải của những tín đồ thường. Điều đó đã trở nên một giáo lý cho rằng chúng ta không thuộc linh cũng không sao; các sự việc thuộc linh có thể được giao cho những người chuyên môn chăm sóc, còn chúng ta là dân thường chỉ lo việc đời thôi. Điều ấy trở nên một giáo lý dạy rằng có hai hạng người trong trong hội-thánh: một hạng người chăm nom những việc thuộc linh, còn hạng người kia chỉ lo việc đời thường. Đối với những người thường, chỉ cần đi nhóm là đủ, không cần phải quan tâm đến những điều khác. Nếu ai đó đưa ra các nguyên tắc nhóm họp trong 1 Cô-rin-tô chương 14 thì sẽ không có hiệu lực. Giáo lý Ba-la-am đã dẫn đến sự dạy dỗ của nhóm Ni-cô-la. Tôi tin rằng đây chính là vấn đề Chúa ghét hơn hết. Vì thế, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến điều này. Tôi thừa nhận có vấn đề chức vụ. Tôi cũng nhận thấy rằng Phao-lô là người vừa may trại vừa hầu việc Chúa, và cũng có Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng là những người dâng mình trọn vẹn cho việc rao giảng. Nhưng ngày nay, điều chúng ta gọi là địa vị của các anh em không liên hệ gì đến địa vị của chức vụ. Trong hội-thánh địa phương, chính các anh em của địa phương đó là những chấp sự và trưởng lão. Tất cả anh chị em đều chăm lo những việc thuộc linh; họ là những thầy tế lễ. Các trưởng lão không làm hết mọi sự thay họ; các trưởng lão chỉ để “coi sóc”. Đối với những công tác viên Cơ-đốc, khi đến với hội-thánh, họ cũng chỉ ở vị trí là một anh em thôi. Đây là điểm khác biệt giữa nhóm Ni-cô-la và các anh em. Kinh Thánh bày tỏ rằng, tất cả con cái Đức Chúa Trời đều phải làm chứng, nhưng các sứ đồ làm chứng nhiều hơn. Sự khác nhau là vấn đề mức độ chứ không phải bản chất. Bản chất thì như nhau chỉ có mức độ là khác nhau. Nhưng sự dạy dỗ của nhóm Ni-cô-la đã tạo nên một sự thay đổi; các sự việc thuộc linh được một nhóm người thuộc giai cấp đặc biệt coi sóc. Đây là điều Chúa khiển trách; vì nếu như vậy, hội-thánh trở nên thế tục và toại nguyện khi chỉ có vài chấp sự thuộc linh. Một vài người thuộc linh đặc biệt được chọn ra từ hội-thánh để coi sóc việc thuộc linh. Họ trở thành một giai cấp khác chăm lo tất cả những công việc thuộc linh. Hệ thống linh mục trong Giáo Hội toàn cầu, hệ thống hàng giáo phẩm của Giáo Hội quốc gia, và hệ thống mục sư trong các Giáo Hội độc lập đều có cùng bản chất. Tất cả đều là nhóm Ni-cô-la. Trong Kinh Thánh chỉ có các anh em. Có ân tứ chăm sóc (mục sư) nhưng không có hệ thống mục sư. Hệ thống mục sư là truyền thống của con người. Nếu con cái Đức Chúa Trời không sẵn lòng quay về với vị trí ban đầu thì dù họ có làm điều gì đi nữa vẫn không đúng đắn. Hội-thánh không được kết hiệp với thế gian và không tiếp nhận những người vôtí n vào trong hội-thánh. Nếu không, sẽ dễ dàng tiếp nhận giáo lý của nhóm Ni-cô-la. Con người phải được phân rẽ với thế gian trước khi họ có thể được đem vào hội-thánh. Hễ khi nào chúng ta cho phép một người vôtín bước vào trong hội-thánh thì hội-thánh không phải là hội-thánh nữa mà là thế gian. Sự thánh khiết và biệt riêng của hội-thánh phải được duy trì bằng bất cứ giá nào. “Vậy, hãy ăn năn đi. Bằng chẳng Ta sẽ kíp đến cùng ngươi, lấy thanh gươm ở miệng Ta màchi ến đấu cùng chúng nó” (Khải 2:16). Ở đây, Chúa nói những lời rất mạnh. Nếu họ không ăn năn, Ngài sẽ đoán phạt họ bằng thanh gươm nơi miệng Ngài, tức là Ngài sẽ trừng phạt và xét xử những ai nghịch cùng Ngài. Chúng ta cần cầu nguyện với Đức Chúa Trời để giữa vòng chúng ta không có nhóm Ni-cô-la! Tôi có cảm nhận rằng nếu hội-thánh thuộc linh thì nhóm Ni-cô-la không thể nào sản sinh được. Một khi hội-thánh đã trở nên thế tục, nhóm Ni-cô-la sẽ xuất hiện. Từ ban đầu, Đức Chúa Trời đòi hỏi dân Y-sơ-ra-ên là cả nước đều phải là thầy tế lễ. Vì cớ dân Y-sơ-ra-ên phạm tội nên Đức Chúa Trời đã biệt riêng chi phái Lê-vi để làm thầy tế-lễ. Khi nào hội-thánh mang tính chất thế gian thì vấn đề phụng sự Đức Chúa Trời được giao cho vài người. Ngày nay, Đức Chúa Trời muốn tất cả mọi người trong hội-thánh đều làm những công việc thuộc linh. “Kẻ đắc thắng, Ta sẽ cho ma-na giấu kín, cũng sẽ cho người một viên đá trắng, trên đó có viết tên mới, ngoài kẻ nhận được chẳng ai biết đến” (c.17). Có hai điều được hứa cho những người đắc thắng: thứ nhất, ma-na giấu kín và thứ hai, viên đá trắng. Ma-na giấu kín và ma-na trong đồng vắng là hai thứ khác nhau. Khi dân Y-sơ-ra-ên còn ở trong đồng vắng thì mỗi ngày ma-na từ trời rơi xuống cho họ ăn. Môi-se bảo họ lấy một chiếc bình bằng vàng, đựng đầy một ô-me ma-na và giữ nó trong rương giao ước. Khi các thế hệ sau có hỏi về việc này thì họ có thể nói cho chúng biết rằng Đức Chúa Trời đã ban ma-na từ trời xuống để nuôi họ lúc còn ở trong đồng vắng như thế nào, và bấy giờ họ có ma-na trong rương làm bằng chứng (Xuất 16:14-35). Các thế hệ sau không biết ma-na là gì, nên người ta có thể chỉ cho họ thấy ma-na trong rương. Thế là họ sẽ biết ma-na. Nhưng những người đã ăn ma-na lại có một cảm nhận khác về ma-na giấu kín. Họ đã biết mùi vị; cho nên khi nhìn lại ma-na, họ sẽ có một sự hồi tưởng nào đó; còn những người chưa từng nếm thử ma-na, thì dù có biết về nó, cũng không thể có một sự hồi tưởng như vậy. Với những ai đắc thắng, Chúa sẽ cho ăn ma-na giấu kín, tức là họ sẽ có những sự hồi tưởng. Tất cả những kinh nghiệm của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời đều quý báu và sẽ không bị mất đi. Nhiều anh em hỏi tôi rằng liệu những điều mà chúng ta trải qua trước mặt Đức Chúa Trời có hữu dụng trong cõi đời đời không? Nếu biết được ý nghĩa của ma-na giấu kín, anh em sẽ biết những điều này có hữu dụng hay không. Nếu có dịp nhìn thấy “ma-na giấu kín”, chúng ta sẽ một lần nữa được nhớ lại “ma-na hằng ngày”. Những khó khăn mà chúng ta đã trải qua và những giọt nước mắt đổ ra hôm nay đều sẽ trở nên sự hồi tưởng sau này. Theo tôi, ma-na giấu kín là ma-na hằng ngày. Những người chưa từng thấy ma-na thì vào ngày ấy, khi nhìn thấy ma-na giấu kín, họ sẽ không có một sự hồi tưởng nào. Mặc dù họ biết sự dẫn dắt của ân điển Ngài, nhưng họ không ăn điều đó hằng ngày. Tuy nhiên, những người đã ăn ma-na thì sẽ đầy dẫy những hồi tưởng. Ma-na giấu kín là một nguyên tắc rất lớn trong Kinh Thánh và cũng là một kho báu vĩ đại. Rồi có một ngày, chúng ta sẽ ăn ma-na giấu kín thiên thượng. Nếu bây giờ chúng ta không có một nỗi đau nào thì không phải là người đắc thắng. Nếu bây giờ không trải qua những điều này thì trong tương lai, dù được ban cho ma-na giấu kín, chúng ta vẫn không hồi tưởng hay nếm lại những kinh nghiệm. Đừng bao giờ nói rằng những điều chúng ta gặp phải hôm nay là vông hĩa. Không một kinh nghiệm nào mất đi cả. Vào ngày ấy, tất cả chúng ta đều có thể nhớ lại những kinh nghiệm của mình. Đừng nói rằng trong vương quốc tất cả đều như nhau. Không, tất cả đều không như nhau! Những kinh nghiệm trên đất có liên quan đến những gì chúng ta sẽ vui hưởng trong ngày ấy. Ma-na giấu kín trở nên quen thuộc với những ai đã từng biết về nó; và hoàn toàn xa lạ với những ai không hề biết nó. Ngày nay, chúng ta đang trải qua những khó khăn và hoạn nạn; vào ngày ấy, Chúa sẽ lau khôm ọi giọt lệ của chúng ta. Làm thế nào một người chưa từng khóc lại có thể biết được tính chất quý báu của việc lau khôdo ng lệ? Còn một phần thưởng khác nữa, đó là viên đá trắng và tên mới của người đắc thắng được viết trên đó. Chúa ban cho mỗi người đắc thắng một tên mới, tên này tương ứng với tình trạng của người ấy trước mặt Chúa. Một anh em nọ muốn tôi đổi tên mới cho mình, nhưng tôi không biết liệu sau khi đã được đổi rồi thì tên mới này có lại sẽ đổi nữa không. Chúa viết tên này trên viên đá trắng; chỉ có Chúa và anh em biết tên đó. Người đắc thắng không nhận lãnh một tên đặc biệt nhưng là một tên xứng đáng với họ. Tôi hy vọng Chúa mở mắt chúng ta để biết con đường của người đắc thắng, hầu chúng ta có thể nhận lãnh ma-na giấu kín và tên mới.
---------------------
Dzung sưu tầm
Cuối cùng...
Cuối cùng thì nhà thần học thời đại Dzung cũng chịu những "bài giảng" của Nghê Thác Thanh, không chụp mũ là "thần học cắt dán". Dầu vậy, không ghi rõ xuất xứ và tên người giảng là thái độ thiếu ngay thẳng.
Dầu ý chính của bài giảng trên đây đúng với sự dạy dỗ của Thánh Kinh nhưng có những chi tiết không đúng sự thật, thí dụ như: - Chữ Bẹt-găm có nghĩa là “hôn nhân” hay “kết hiệp”. - Anti có nghĩa là “chống lại”; ba (Pas) là “tất cả”. - Ni-cô-la nghĩa là thắng hơn tín đồ thường, tức có một nhóm là người chuyên môn, là người ở trong nghề; còn những người khác thì không chuyên môn, là những người không ở trong nghề. - Các thế hệ sau không biết ma-na là gì, nên người ta có thể chỉ cho họ thấy ma-na trong rương. Thế là họ sẽ biết ma-na.
Nhà thần học thời đại Dzung có biết là những điểm nêu trên không đúng sự thật như thế nào không?
Không thấy thần khí của Đức Chúa Trời
Có vài điều sau chúng ta cần nói:
Thứ nhất: Chúa Jesus luôn căn dặn con cái NGài sống trong sự yêu thương như lời Kinh Thánh đã căn dặn.
E phê sô 4:32 "Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy"
Sao anh em chúng ta không ngồi xuống, bàn thảo một cách nhẹ nhàng, từ tốn, cùng nhau tìm đến chân lý, cớ sao mà chúng ta phải cãi nhau? Tôi có cảm giác chúng ta hết thảy đang bị quỷ ma dẫn đưa, đem anh em Chúa chúng ta về đường cãi cọ, là bản năng tự nhiên của mỗi người.
Thứ hai: Anh em trong một nhà thì cũng có lúc giận lẫy nhau, nhưng hẳn cũng sẽ làm lành, chúng ta cùng một Cha và chung ta đều dc Cha nuôi dạy làm người, cả thân thể chúng ta không còn là máu và thịt nhưng là tình yêu và sự thanh sạch.
Giăng 3:16:
Kg: Chiên Việt
Thưa anh em,
Đây là trang biện giáo nên sẽ có nhiều quan điểm có khi phải làm nhức nhối lương tâm chúng ta. Vì là quan điểm do con người viết ra chắc chắn nó sẽ không thể hòan hảo. Điều cốt yếu là anh em chúng ta nắm các nội dung chính yếu mà Thiên Chúa muốn dùng một ai đó gởi gắm đến chúng ta.
Nếu Chiên Việt bị đụng chạm thì xin hãy biện giáo, không nên kết luận vội vàng như trên vì chúng ta ai cũng phải tìm kiếm Chúa hàng ngày. Anh không nên độc tôn tư tưởng vì nó chẳng khác nào nhóm Nicolas trong Bẹt-găm cả. "Nhà thần học thời đại Dzung có biết là những điểm nêu trên không đúng sự thật như thế nào không?" ----> Nó không đúng với Thần Học của anh thì đúng hơn.
Dzung
Nói bậy
Dzung nói bậy: "Nó không đúng với Thần Học của anh thì đúng hơn."
Tôi đã viết là: " ý chính của bài giảng trên đây đúng với sự dạy dỗ của Thánh Kinh" thì đương nhiên tôi không phê bình thần học của bài giảng trên. Tôi chỉ muốn nói rằng, nhiều khi người ta có thần học đúng nhưng muốn thuyết phục người khác chấp nhận như mình cho nên đã vận dụng những thủ thật bẻ cong sự thật.
Chỉ cần mở các cuốn từ điển Hy-lạp ra là người ta có thể thấy tác giả bài giảng đã tự ý định nghĩa các danh từ (nêu trên) để thuyết phục người khác tin vào quan điểm thần học của mình mặc dù tự quan điểm đó đã đúng với sự dạy dỗ của Thánh Kinh.
- Chữ Bẹt-găm có nghĩa là “hôn nhân” hay “kết hiệp”. Theo từ điển của Thayer thì Bẹt -găm (Πέργαμος - Pergamos) có nghĩa là "chiều cao hoặc độ cao" (height or elevation); theo từ điển của Strong thì chữ gốc của Bẹt-găm là "đồn lũy." Chữ Bẹt-găm hoàn toàn không quan hệ gì đến "hôn nhân" hay là "kết hiệp." Sở dĩ thành phố Bẹt-găm được gọi là Bẹt-găm, nghĩa là "chiều cao" hoặc "độ cao" là vì nó được xây dựng trên một ngọn đồi đá cao, hùng vĩ, hình chóp nón. Không biết dựa vào đâu mà Nghê Thác Thanh đã định nghĩa Bẹt-găm có nghĩa là "hôn nhân" hay "kết hiệp" nhằm nhấn mạnh đến quan điểm thần học về sự kiện Hội Thánh kết hiệp với thế tục. Tôi nhắc lại, dầu quan điểm thần học của tác giả là đúng nhưng một số dữ kiện dùng để thuyết phục người đọc/nghe là sai. - Anti có nghĩa là “chống lại”; ba (Pas) là “tất cả”. Anti có ba nghĩa: (1) chống lại, (2) thay thế, (3) giống như. Tùy theo tiếp ngữ đứng trước chỉ định ý nghĩa. Pas có nghĩa là "cha." Theo từ điển của Thayer thì An-ti-ba (Ἀντίπας - Antipas) có nghĩa là "giống như cha" (like the father). Không hiểu dựa vào đâu mà Nghê Thác Thanh đã định nghĩa Antipas là chống lại tất cả để cho rằng Antipas là người đứng về phía Đức Chúa Trời để chống nghịch lại tất cả những sự và những người nghịch với Chúa. Bất cứ ai là con dân trung tín với Chúa cũng đều đứng về phía Đức Chúa trời để chống nghịch lại những sự và những người chống nghịch Chúa, nhưng đó không phải là ý nghĩa của tên gọi "Antipas." - Ni-cô-la nghĩa là thắng hơn tín đồ thường, tức có một nhóm là người chuyên môn, là người ở trong nghề; còn những người khác thì không chuyên môn, là những người không ở trong nghề. Cũng như hai trường hợp trên, không hiểu Nghê Thác Thanh đã dựa vào đâu để đưa ra định nghĩa chữ Ni-cô-la như vậy. Theo từ điển của Thayer thì Ni-cô-la (Νικολαΐ́της - Nikolaitēs) có nghĩa là "sự hủy diệt dân sự" (destruction of people). Những kẻ theo đảng Ni-cô-la là những kẻ đề cao lối sống kết hiệp với phụ nữ ngoại (giáo lý của Ba-la-am) dẫn đến sự phạm tội của con dân Chúa, khiến cho con dân Chúa bị hủy diệt. - Các thế hệ sau không biết ma-na là gì, nên người ta có thể chỉ cho họ thấy ma-na trong rương. Thế là họ sẽ biết ma-na. Không hề có chuyện ai đó được phép mở hòm giao ước ra, mở bình vàng đựng ma-na ra để chỉ cho các thế hệ sau được thấy ma-na để "họ sẽ biết ma-na."
Cái nguy hiểm của sự diễn đạt Lời Chúa theo ý riêng, theo sự tưởng tượng của mình được thể hiện ngay trong bài giảng trên đây của Nghê Thác Thanh. Xin nói rõ, Nghê Thác Thanh là một tôi tớ chân thật của Chúa, tận trung cho đến chết trong ngục tù cộng sản tại Trung Quốc. Hơn hai mươi năm cuối cùng của đời ông bị giam cầm trong ngục tối và ông đã tận dụng thời gian đó để viết ra những tác phẩm thần học và giải kinh xuất sắc mà các thần học gia Tây Phương cũng phải thán phục. Tôi là một trong những người ngưỡng mộ Nghê Thác Thanh và học được rất nhiều qua các tác phẩm của ông. Vì thế, tôi không có ý chê bai hay phản đối tư tưởng thần học của ông. Tôi chỉ muốn nêu lên một nguyên tắc: Không có gì thay thế được Lời Chúa và khi chúng ta nghe bất kỳ ai giảng dạy, chúng ta cũng cần phải đối chiếu sự giảng dạy đó với Lời Chúa.
Ngoài ra, chúng ta cũng cần tránh thái độ bẻ cong sự thật để thuyết phục người ta tin vào chân lý.
Lời than thở của llong
Lời than thở của llong trên đây cho thấy llong không phân biệt được thế nào là "anh em trong Chúa" và "anh em giả dối." Mời xem post sau đây: http://tinlanhbiengiao.net/?q=node/294#comment-2639
Và, xin nhớ rằng, Đức Chúa Trời chỉ tha thứ chúng ta khi chúng ta ăn năn, từ bỏ tội, hoàn toàn đầu phục Chúa, thể hiện qua sự vâng Lời Ngài là Thánh Kinh. Chúng ta cần phải tha thứ cho người mà Đức Chúa Trời đã tha thứ. Chúng ta cần công bố những sự giả hình, tà giáo mà Lời Chúa đã lên án.
cúi xin anh em hãy
cúi xin anh em hãy thương yêu nhau như lời Đức Giê-su đã dạy. hãy tranh luận và bàn thảo, việc của ai cứ làm nhưng sau rốt phải là thương yêu tất cả, trên hết chính bản thân và ý trí của mình.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chữ ký http://www.vandevietnam.net<
Suy gẫm sứ điệp Babylon
Xin chao ngcongbinh!
------------Khi đọc bài viết Sứ điệp Babylon của bạn tôi đoán rằng chắc bạn phải là một người rất đặc biệt, vì nó hoàn toàn khác với những bài viết cùng chủ đề mà tôi đã từng đọc trước đây, thậm chí nó có thể là cái gai châm chích vào lòng tự hào của người tin lành khắp thế giới. Họ đang rất hãnh diện vì theo một tôn giáo (gần như) là quốc giáo của một siêu cường thế giới nhưng lại bị kinh thánh lên án (dựa vào các câu hỏi được nêu ở cuối bài) cho nên họ rất tức giận và gán cho sứ điệp này là tà giáo, đó cũng chính là lý do khiến cho tôi phải truy tìm đọc sứ điệp này… Thật là khó có thể chấp nhận được vì là một đất nước từng được ơn trong việc mở mang nước Chúa mà lại ra nông nỗi này! Dẫu sao thì kinh thánh cũng đã phán!! Điều này cũng nhắc nhở mỗi con cái Chúa nên thận trọng trong đời sống của mình, vì Chúa Jesus đã từng cảnh báo trong Math7:22-23 : " 22 Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? 23 Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta! "
--------------------------------Tôi cảm thấy run sợ cho linh hồn mình trước những lời này, mặc dù biết Chúa là Đấng yêu thương nhưng chớ có xem thường…
---------------------------------Cuối cùng, trước khi những gì sẽ xày ra xin bạn cho tôi biết dấu hiệu hoặc một lời khuyên nào trong lúc này về người thân của tôi ở bên đó để tôi có thể giúp họ tránh sự kinh khiếp sắp xảy ra?
----------------------Nguyện Chúa ở cùng và thêm ơn trên bạn!
-------------- keanan