Gợi ý cách dịch danh xưng các chức vụ trong Hội Thánh

Gợi ý cách dịch danh xưng các chức vụ trong Hội Thánh

 

 

Sau khi phổ biến bài góp ý này, Tim Huỳnh đã nhận được lời phê bình là trong bài viết lẫn lộn những dữ kiện (facts) trong Thánh Kinh với ý riêng hoặc sự giải luận riêng của mình có thể khiến cho người đọc lầm lẫn sự diễn giải của Tim Huỳnh (có thể không đúng) với các dữ kiện của Thánh Kinh (tuyệt đối không sai). Tim Huỳnh chân thành nhận lỗi và xin viết lại các gợi ý của mình như sau:

 

I. Apostle

Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: apostolos, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:

1) a delegate, messenger, one sent forth with orders

1a) specifically applied to the twelve apostles of Christ

1b) in a broader sense applied to other eminent Christian teachers

1b1) of Barnabas

1b2) of Timothy and Silvanus

Tạm dịch:

1) một người đại diện, người truyền tin, người được sai đi với những mệnh lệnh

1a) đặc biệt áp dụng cho mười hai sứ đồ của Đấng Christ

1b) trong nghĩa rộng áp dụng cho các giáo viên Cơ đốc trụ cột

1b1) cho Ba-na-ba

1b2) cho Ti-mô-thê và Sin-vanh

Phan Khôi dịch Apostle sang Hán Việt thành Sứ Đồ. Sứ = Người được sai đi; Đồ = Học trò. Thiết tưởng sự dịch này tương đối chính xác cho nên chúng ta có thể giữ lại. Người Công Giáo dịch Apostle là Tông Đồ hoặc Ngôn Sứ. Tông = Chính gốc; Ngôn = Nói, lời nói.

Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 14:1 đề cập Phao-lô và Ba-na-ba vào nhà hội tại thành Y-cô-ni để giảng đạo. Câu 4, câu 14 dùng danh từ sứ đồ số nhiều để gọi chung Phao-lô và Ba-na-ba. Hầu hết trong các thư tín của Phao-lô ông tự xưng ông là Sứ Đồ do Chúa gọi và trong Thư Ga-la-ti ông tích cực bênh vực cho chức vụ sứ đồ của ông.

Mặc dù theo bản dịch Phan Khôi thì Công Vụ Các Sứ Đồ 16:40 cũng gọi Si-la là sứ đồ nhưng Tim Huỳnh đã tra xét trong  23 bản dịch Anh Ngữ và 5 bản Tân Ước tiếng Greek vẫn không thấy có bản nào dùng chữ sứ đồ trong Công Vụ Các Sứ Đồ 16:40. Có lẽ Phan Khôi đã diễn ý câu này trong bản dịch Việt Ngữ.

Thánh Kinh chính thức gọi 15 người là sứ đồ: 12 sứ đồ do Đức Chúa Jesus chọn trước khi Hội Thánh được thành lập. Sứ Đồ Ma-thia được bầu thay thế cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, Sứ Đồ Phao-lô, và Sứ Đồ Ba-na-ba. Tim Huỳnh không biết ông Thayer dựa vào đâu để gọi Ti-mô-thê và Sin-vanh (tức Si-la) là sứ đồ. Có lẽ, bởi vì hai người này cũng có thẩm quyền thiết lập các trưởng lão trong Hội Thánh chăng? Mong nhận được góp ý của quý bạn đọc.

 

II. Evangelist

Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: euaggelistēs, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:

1) a bringer of good tidings, an evangelist

2) the name given to the NT heralds of salvation through Christ who are not apostles

Tạm dịch:

1) người mang tin tức tốt lành, một người rao giảng Tin Lành

2) tên gọi những người trong Tân Ước rao giảng sự cứu rỗi trong Đấng Christ nhưng không phải là sứ đồ

Phan Khôi dịch EvangelistNgười Giảng Tin Lành (Công Vụ Các Sứ Đồ 21:8; II Ti-mô-thê 4:5). Thiết tưởng, dịch như vậy là đúng nghĩa. Chúng ta có thể giữ nguyên hoặc đổi thành Truyền Đạo Viên (Truyền Đạo = Rao giảng Đạo; Viên = Người chuyên tâm làm một công việc nào đó).

III. Bishop

Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: episkopos, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:

1) an overseer

1a) a man charged with the duty of seeing that things to be done by others are done rightly, any curator, guardian or superintendent

1b) the superintendent, elder, or overseer of a Christian church

Tạm dịch:

1) một người giám thị

1a) một người được giao cho bổn phận giám thị để những công việc đã giao cho các người khác làm được thực hiện đúng cách; bất kỳ một người quản lý, người giám hộ, hoặc người quản đốc nào

1b) một người quản đốc, trưởng lão, hoặc giám thị của một Hội Thánh Cơ-đốc

Phan Khôi dịch Bishop sang Hán Việt là Giám Mục. Giám = Xem xét; Mục = Nuôi súc vật, theo ý thuộc linh là Mục Vụ: Công tác chăn bầy hoặc truyền đạo. Thiết tưởng, dịch như vậy là đúng nghĩa, không cần phải thay đổi.

IV. Elder

Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: presbuteros, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:

1) elder, of age

1a) the elder of two people

1b) advanced in life, an elder, a senior

1b1) forefathers

2) a term of rank or office

2a) among the Jews

2a1) members of the great council or Sanhedrin (because in early times the rulers of the people, judges, etc., were selected from elderly men)

2a2) of those who in separate cities managed public affairs and administered justice

2b) among the Christians, those who presided over the assemblies (or churches) The NT uses the term bishop, elders, and presbyters interchangeably

2c) the twenty four members of the heavenly Sanhedrin or court seated on thrones around the throne of God

Tạm dịch:

          1) lớn hơn, về tuổi tác

                   1a) người lớn hơn trong hai người

                   1b) tiến bộ trong đời sống (cao niên), một trưởng lão, một trưởng thượng

                             1b1) ông cha, tổ tiên

          2) một danh xưng về cấp bậc hoặc chức vụ

                   2a) giữa vòng những người Do-thái

2a1) các thành viên của đại hội đồng Sanhedrin (Tòa Công Luận) (bởi vì thuở trước những nhà cai trị dân chúng, quan tòa, v.v., đều được tuyển chọn từ những người lớn tuổi)

2a2) dùng cho những người trong các thành phố khác nhau quản lý công sự và thi hành công lý

2b) giữa vòng các Cơ-đốc nhân, là những người chủ tịch các hội chúng (hoặc các Hội Thánh). Tân Ước dùng danh từ giám mục, trưởng lão một cách thay thế lẫn nhau

2c) Hai mươi bốn thành viên của hội đồng Sanhedrin hoặc cung triều trên trời ngồi trên các ngôi chung quanh ngôi Đức Chúa Trời.

Phan Khôi dịch Elder sang Hán Việt là Trưởng Lão. Trưởng = đứng đầu; Lão = lớn tuổi (ở đây được hiểu là về mặt thuộc linh = có kinh nghiệm thuộc linh). Thiết tưởng, dịch như vậy là đúng nghĩa, không cần phải thay đổi.

V. Pastor/Shepherd

Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: poimēn, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:

1) a herdsman, especially a shepherd

1a) in the parable, he to whose care and control others have committed themselves, and whose precepts they follow

2) metaphorically

2a) the presiding officer, manager, director, of any assembly: so of Christ the Head of the church

2a1) of the overseers of the Christian assemblies

2a2) of kings and princes

Tạm dịch:

1) người chăm sóc thú vật, đặc biệt là người chăn chiên

1a) trong ngụ ngôn, là người mà sự chăm sóc và kiểm soát của người ấy khiến cho những người khác đầu phục, và tuân theo các lời giảng dạy

2) nghĩa ẩn dụ

2a) người chủ tịch, quản lý, giám đốc của bất kỳ một hội chúng: dùng cho Đấng Christ, Ngài là Đầu của Hội Thánh

2a1) dùng cho những người giám thị những Hội Chúng Cơ Đốc

2a2) dùng cho các vua, các vương tử

Phan Khôi dịch Pastor sang Hán Việt là Mục Sư. Mục = Mục vụ: Công tác chăn bầy hoặc truyền đạo; Sư = thầy. Trong tiếng Việt không có chữ nào tương đương với chữ "sư" của Hán Việt. Chữ "thầy" trong tiếng Việt chỉ tương đương với chữ "giáo" trong Hán Việt. Thầy là người hướng dẫn chúng ta những điều chúng ta cần biết hoặc muốn biết trong cuộc sống, một người truyền đạt tri thức, kỹ năng cho chúng ta. Trong khi đó, "sư" là người mà chúng ta phải phục tùng tất cả những ý chỉ của người ấy, bất kể chúng ta có tán thành hay không. Trong cái thứ tự lễ nghĩa của Nho Giáo, "sư" đứng trước cha, có quyền hơn cha. Một người theo Nho Giáo phải đặt vua lên trên hết, kế tiếp tới "sư," rồi mới đến cha: "Quân Sư Phụ." Ý nghĩa độc đáo của chữ "sư" trong Hán Việt không cho phép chúng ta dịch Pastor/Shepherd thành "Mục Sư," vì như vậy sẽ vi phạm lệnh cấm của Đức Chúa Jesus trong Ma-thi-ơ 23:8 "Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em. - But be not ye called Rabbi: for one is your Master, even Christ; and all ye are brethren."

Thiết tưởng, chúng ta nên dịch Pastor/Shepherd thành "Người Chăn" trong tiếng Việt hoặc "Mục Tử" trong Hán Việt, hoặc tốt hơn, dịch là "Mục Đồ" với ý nghĩa "học trò của Chúa làm nhiệm vụ chăm sóc bầy chiên của Chúa." Mục Đồ mới nghe thì lạ tai nhưng nghe nhiều lần sẽ quen tai như: tín đồ, môn đồ, sứ đồ, thánh đồ... Người Công Giáo dịch Pastor/Shepherd sang Hán Việt thành Linh Mục, rất đúng nghĩa.

VI. Deacon

Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: diakoneō, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:

1) to be a servant, attendant, domestic, to serve, wait upon

1a) to minister to one, render ministering offices to

1a1) to be served, ministered unto

1b) to wait at a table and offer food and drink to the guests

1b1) of women preparing food

1c) to minister, i.e. supply food and necessities of life

1c1) to relieve one’s necessities (e.g. by collecting alms), to provide take care of, distribute, the things necessary to sustain life

1c2) to take care of the poor and the sick, who administer the office of a deacon

1c3) in Christian churches to serve as deacons

1d) to minister

1d1) to attend to anything, that may serve another’s interests

1d2) to minister a thing to one, to serve one or by supplying any thing

Tạm dịch:

1) làm một đầy tớ, người hầu, người giúp việc nhà, người phục vụ, tùy phái

1a) chăm sóc một người nào, giao phó chức vụ chăm sóc

1a1) được phục vụ, được chăm sóc cho

1b) chờ đợi bên bàn và trao thức ăn, thức uống cho khách

          1b1) gọi những người phụ nữ nấu ăn

1c) chăm sóc, như: cung cấp thực phẩm và các nhu yếu của đời sống

1c1) giải quyết nhu cầu của ai đó (như bởi sự quyên góp), cung cấp sự chăm sóc, phân phối những điều nhu yếu để bảo tồn sự sống

1c2) chăm sóc những người nghèo và đau yếu, người đảm nhận chức vụ chấp sự

1c3) trong Hội Thánh Cơ-đốc, phục vụ trong vai trò chấp sự

1d) chăm sóc

1d1) làm bất cứ việc gì để giúp đỡ cho phúc lợi của người khác

1d2) chu cấp một điều gì đó cho ai, để phục vụ người đó hoặc bởi chu cấp bất kỳ điều gì

Phan Khôi dịch Deacon sang Hán Việt là = Chấp Sự. Chấp = làm theo; Sự = Công việc. Thiết tưởng chúng ta có thể giữ nguyên danh từ Chấp Sự vì dịch như thế cũng khá xác nghĩa và khó mà tìm được danh từ nào thích hợp hơn. Trong Hội Thánh ban đầu cũng có Nữ Chấp Sự (Rô-ma 16:1).

VII. Minister

Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: diakonos, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:

1) one who executes the commands of another, especially of a master, a servant, attendant, minister

1a) the servant of a king

1b) a deacon, one who, by virtue of the office assigned to him by the church, cares for the poor and has charge of and distributes the money collected for their use

1c) a waiter, one who serves food and drink

Tạm dịch:

1) người thi hành mệnh lệnh của người khác, đặc biệt là của chủ, một người đầy tớ, người hầu, người phục vụ

1) đầy tớ của một vì vua

1b) một chấp sự, là người bởi chức vụ do Hội Thánh giao phó, chăm sóc cho người nghèo và được giao cho nhiệm vụ phân phát tiền quyên góp để người nghèo chi dụng

1c) một tiếp viên, lo phục vụ thức ăn và thức uống

Phan Khôi dịch Minister = Người Hầu Việc/Người Giúp Việc. Đề nghị chúng ta dịch là  Mục Vụ Viên. Mục vụ = công tác chăn bầy hoặc truyền đạo; Viên = Ngưòi chuyên tâm làm một công việc nào đó.

VIII. Preacher

Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp là: kērux, được Từ Điển "Thayer's Greek Definition" định nghĩa như sau:

1) a herald or messenger vested with public authority, who conveyed the official messages of kings, magistrates, princes, military commanders, or who gave a public summons or demand, and performed various other duties. In the NT God’s ambassador, and the herald or proclaimer of the divine word.

Tạm dịch:

1) một người loan tin hoặc một người truyền tin có công quyền để chuyển đạt thông điệp của các vua, các quan tòa, các vương tử, các tướng lãnh, hoặc người trao trát tòa hay lệnh tòa và thực hiện các công vụ khác nữa. Trong Tân Ước là những đại sứ của Đức Chúa Trời và là người loan báo hay người công bố lời Thánh.

Phan Khôi dịch Preacher = Thầy Giảng. Đề nghị chúng ta dịch là Giảng Viên. Giảng = Trình bày rõ ràng một điều gì; Viên = Ngưòi chuyên tâm làm một công việc  nào đó. Giảng Viên là người chuyên tâm rao giảng lời Chúa, như vậy tránh được sự hiểu lầm về chữ "thầy."

IX. Missionary

Trong Thánh Kinh không có danh từ Missionary. Hội Thánh Việt Nam dịch Missionary sang Hán Việt thành Giáo Sĩ. Giáo = Dạy cho hiểu biết; Sĩ = Người có học. Trong thực tế, danh xưng này được dùng để gọi những người có các kiến thức chuyên môn về văn hóa, xã hội, khoa học... dành toàn thời gian đi đến các dân tộc chưa biết Chúa để vừa rao giảng Tin Lành vừa làm các công tác giáo hóa và xã hội như mở mang và làm việc trong các truờng học, bệnh viện, cô nhi viện, dưỡng lão viện, cơ sở huấn nghệ... nhằm phục vụ các nhu cầu xã hội và nâng cao tri thức, văn hóa của các đối tượng được truyền giáo.

X. Reverend

Thánh Kinh chỉ dùng danh xưng này cho Đức Chúa Trời một lần trong Thi Thiên 111:9. Trong nguyên tác tiếng Hê-bơ-rơ là yârê'. Từ điển "Strong's Hebrew Dicyionary" định nghĩa như sau:

A primitive root; to fear; morally to revere; causatively to frighten: - affright, be (make) afraid, dread (-ful), (put in) fear (-ful, -fully, -ing), (be had in) reverence (-end), X see, terrible (act, -ness, thing).

Tạm dịch:

Một từ gốc nguyên thỉ; sợ, kính sợ trong tinh thần đạo đức, khiến cho hoảng sợ: kinh sợ, bị (làm cho) sợ hãi, (một cách) kinh khủng, (khiến cho) lo sợ, (ở trong) sự tôn kính, chiêm ngưỡng, kinh khiếp (hành vi, sự việc, sự)

Phan Khôi dịch Thi Thiên 111:9 như sau: "Ngài đã sai cứu chuộc dân Ngài, Truyền lập giao ước Ngài đến đời đời. Danh Ngài là thánh, đáng kính sợ." bản dịch King James dịch: "He sent redemption unto his people: he hath commanded his covenant for ever: holy and reverend is his name."

Người Công Giáo mở đầu cho sự lấy "Reverend" làm danh xưng cho các chức sắc trong Giáo Hội Công Giáo. Sau đó, các Giáo Hội Chính Thống, Anh Giáo, và Lutheran cũng bắt chước theo. Theo thời gian, thói quen này thâm nhập vào trong hầu hết các giáo phái Tin Lành. Với tinh thần hạ mình khiêm nhường, xem người khác là tôn trọng hơn chính mình Chúa dạy cho con dân và tôi tớ Chúa, chúng ta không nên mang danh xưng này.

 

Huỳnh Christian Timothy Viết lần đầu: 12/12/2007 Viết lại, có sửa chữa và cập nhật: 19/12/2007

Ghi chú: Trong một dịp khác chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu về chi tiết và bàn về sự tồn tại của các chức vụ và ân tứ trong Hội Thánh.

Tham khảo thêm về "reverend"

Tiết mục "Reverend" trong http://en.wikipedia.org/wiki/Reverend  ở phần cuối bài, viết như sau:

Theological controversy

Some Christians, particularly members of the Churches of Christ and some Baptist groups, reject using the term "reverend" for human beings and maintain that it should be reserved for God alone. (See Matthew 23:5–10.) The word "reverend" is used only once in most translations of the Bible: “[God] sent redemption unto his people: he hath commanded his covenant forever: holy and reverend is his name.” [Psalm 111:9; italics added] They also assert that even the apostles refused to be revered and that they claimed they were only men (Acts 10:25-26). From this principle the Churches of Christ typically refer to their preachers as "ministers" or "evangelists" and some Baptists use the term "minister" or "pastor".

Some Christians also object to the use of "Father" as a form of address for Catholic, Orthodox and Anglican clergy and to the use of "Rabbi" (teacher) for Jewish religious leaders, citing Jesus' teaching in Matthew 23:8-9.

Xin tạm dịch:

Tranh luận thần học

Một số Cơ-đốc nhân, đặc biệt là các thành viên của Giáo Hội Các Hội Thánh của Đấng Christ và một số nhóm Báp-tít, từ chối việc dùng từ "reverend" cho loài người, và cho rằng từ này chỉ nên dùng cho Đức Chúa Trời mà thôi. (Xem Ma-thi-ơ 23:5-10). Chữ "reverend" chỉ được dùng có một lần trong hầu hết các bản dịch của Thánh Kinh: "[Đức Chúa Trời] ban sự cứu rỗi cho dân Ngài: Ngài đã truyền giao ước của Ngài cho đến đời đời: thánh thay và đáng tôn kính thay là Danh Ngài." [Thi Thiên 111:9; kiểu chữ nghiêng được thêm vào.] Họ cũng quả quyết rằng ngay cả các sứ đồ cũng từ chối được tôn kính và chỉ nhận rằng mình là loài người (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:25, 26). Từ nguyên tắc này mà Giáo Hội Các Hội Thánh của Đấng Christ đề cập đến các giảng viên của họ một cách đặc trưng là "mục vụ viên" hoặc "truyền đạo viên" còn một số người Báp-tít thì dùng danh từ "mục vụ viên" hoặc "mục đồ"

Một số Cơ-đốc nhân cũng phản đối việc dùng "Cha" như là hình thức xưng hô với giới tăng lữ của các Giáo Hội Công Giáo, Chính Thống Giáo, và Anh Giáo cũng như sự dùng "Rabbi" (thầy) để gọi những lãnh tụ tôn giáo của Do-thái Giáo, trích dẫn lời phán dạy của Đức Chúa Jesus trong Ma-thi-ơ 23:8-9.

Phải chăng, những người chăn bầy Việt Nam cũng nên bãi bỏ việc tự xưng là "sư" (thầy) vàcác tín đồ Việt Nam cũng nên thôi gọi người chăn của mình là "sư?" và tuyệt đối là chúng ta hãy dành riêng từ "reverend" để tôn kính danh Chúa.

"Reverend is His Name!" là tuyên phán của Thánh Kinh.

Sao chúng ta lại dám đổi thành: "Reverend is Dr. ABC Văn Nguyễn?"

Tim Huỳnh.

Danh xưng và chức vụ

Từ khi kinh thánh được dịch ra bằng tiếng Việt danh từ Mục sư đã có từ khi đó năm 1926 , nămkinh thánh được xuất bãn .

Đối với một số  người đó là một nổi trăn trở khi phải dùng danh từ mà mình biết chắc chắn rằng đó là sai với kinh thánh . Đối với nhiều người  đó chỉ là một danh xưng  không quan trọng bằng  tinh thần phục vụ của người đó  chẳng qua chỉ là vấn đề chử nghĩa .

Ma-thi-ơ 23:8  ghi rằng " Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi bằng thầy ; vì các ngươi chỉ có một thầy , và các ngươi hết thảy đều là anh em "

Bàng bạc trong kinh thánh Việt Nam bản Phan Khôi chử "thầy " đã được dùng rất nhiều như : Thầy thông giáo, thầy bác sỹ, thầy đội, thầy tế lễ, thầy cã thượng phẩm, thầy phó tế, thầy thông thái . . . Trong kinh thánh Mỹ những danh xưng  tương đối rỏ ràng hơn, có khi không gọi bằng thầy .

Phải chăng đó là một thiếu sót của phiên dịch  ? Hay ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo trong sự tôn trọng người khác qua những danh xưng ? Ngày nay danh xưng "thầy" cũng được dùng khá rộng rải trong vòng các hội thánh , Thầy A , thầy B , thầy C . . .cho dù những người nầy chỉ là những chấp sự hay người hướng dẩn kinh thánh . . . huống hồ chi người chăn chiên một " number one " trong hội thánh được gọi là thì đâu có gì là quá đáng lắm đâu ?

Khi tôi dùng chử "người chăn" lại nảy sinh ra thêm vấn đề khác nửa giửa  người chăn và các con chiên . Có phải chăng có hai loại khác nhau : Một là con  người , và các con chiên ? Thật là vấn đề rắc rối của chử nghĩa ?

" Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi bằng thầy ; vì các ngươi chỉ có một thầy , và các ngươi hết thảy đều là anh em "

Đây không phải là vấn đề của người gọi mà là vấn đề của người được gọi . Có chịu , có ưng người ta gọi mình bằng thầy hay không ? Đã chịu , đã ưng lại còn xưng mình là thầy nửa có phải đã cố tình làm sai lời kinh thánh  ?

Có lẻ cũng còn chưa đủ  có người còn xưng mình là Rev. Mục Sư Nguyễn văn ABC  thêm chử  Đáng tôn kính  vào  chức vụ  Mục Sư  và còn có người  lại thêm  cả bằng cấp vào trước danh xưng của mình nửa  khiến cho tôi nhớ một câu chuyện hài một người có tên là Công Tằng Tôn Nữ Tạ Thị Đánh Đu Tòn Ten Bông Lồng Đèn Đỏ Thắm . . .

Thiệt là kỳ cục làm sao ! Ma-thi-ơ 23:8 có chút  ý nghỉa gì không ?

thầy

Trong Hội Thánh vẫn có thầy (1 Cor 12:28). Vậy cái gì thì Cơ-đốc nhân dạy cho người khác được, cái gì dạy không được?

Về chữ "thầy" trong Tân Ước

Chữ "thầy" trong I Cô-rinh-tô 12:28, 29; Công Vụ Các Sứ Đồ 13:1 trong nguyên tác Greek (didaskalos) có nghĩa là "instructor" là người hướng dẫn.

Chữ "thầy" trong Ma-thi-ơ 23:8 trong nguyên tác Greek (rhabbi  và kathēgētēs) có nghĩa là "master" là chủ. Chữ này chỉ dành riêng cho Đấng Christ: "But be not ye called Rabbi: for one is your Master, even Christ; and all ye are brethren." (Matthew 23:8

Còn thầy giáo trong trường học thì nguyên tác Greek là  paidagōgos (Ga-la-ti 3:24, 27; I Cô-rinh-tô 4:15)

Cơ đốc nhân có nhiệm vụ giảng dạy (hướng dẫn) người khác những gì mình đã học được từ Chúa nhưng Cơ đốc nhân không phải là "sư phụ," không phải là "cha" là "chủ" (trong phương diện thuộc linh) của người khác. 

Tôi  nghĩ, thà chúng ta chịu bị chê là ngu dốt, nghe Chúa dạy sao thì làm vậy, còn hơn là tìm cách để bào chữa cho sự vi phạm lệnh phán của Chúa. Nếu mắt và tay tôi cứ phạm tội luôn thì tôi thà móc mắt, chặt tay theo nghĩa đen Chúa dạy để tay và mắt tôi không còn phạm tội nữa. Nếu tôi giàu có (hơn mức đăn đủ mặc) thì tôi phải phân tán gia tài tôi cho kẻ nghèo để thong dong bước đi theo Chúa. Tôi không muốn vì giàu có mà vào Nước Trời còn khó hơn là lạc đà chui qua lỗ kim. Chung quanh tôi biết bao là anh chị em cùng đức tin đang nghèo khó trong vật chất. Biết bao nhiêu cơ hội để chu cấp cho các giáo sĩ và chi phí truyền giáo? Tôi tin, Chúa thật sự muốn con dân Chúa đem hết thảy của cải mà chia cho người dạy đạo và "trong lúc có dịp tiện, phải làm điều thiện cho mọi người" và lúc nào cũng có người nghèo ở với chúng ta...

Tôi nói nhiều quá, e rằng trở thành cực đoan, quá khích, hay cuồng tín chăng? Tôi không quan tâm đến việc người khác nghĩ gì về tôi miễn là điều tôi tin, điều tôi rao giảng, và nếp sống của tôi KHÔNG VI PHẠM Lời Chúa!

Tôi là người hầu việc Chúa trong chức vụ chăn dắt một bầy chiên của Ngài. Từ ngày bước vào chức vụ, tôi nhận mình là "pastor" nhưng tôi không nhận mình là "mc sư" vì tôi chỉ là một "người chăn" tôi không phải là "thầy chăn." Tôi biết, khi tôi nêu vấn đề "mục sư" ra công chúng, tôi sẽ bị mất nhiều anh em cùng ở trong chức vụ chăn bầy như tôi, vì những người đó thích danh xưng "mục sư" và thích xưng là "reverend."  Nhưng tôi được sự thúc giục phải lên tiếng một lần. Sự công bố này đã bị cản trở, đình trệ vì nhiều lý do hơn một năm nay. Nay Chúa cho phép tôi được mạnh dạn lên tiếng thì tôi nhân danh Chúa mà lên tiếng. Hậu quở trong bàn tay của Chúa. Tôi cũng đã đổi tên Hội Thánh mà tôi đang quản nhiệm từ: "Hội Thánh Báp-tít Emmanuên" thành: "Hội Thánh tại North Park Avenue, Tucson, Arizona" để trở về với cái tên nguyên thủy "Hội Thánh" Chúa đã dùng để gọi Hội Thánh của Ngài. Cám ơn Chúa là ông bà anh chị em trong Hội Thánh chấp nhận sự giảng dạy của tôi và đồng ý trong việc không gọi tôi là "mục sư" và trong việc đổi tên Hội Thánh

Tôi ước mong Hội Thánh Việt Nam đồng lòng dịch danh xưng "pastor" thành "mục đồ." Chúng ta đã có: tín đồ, môn đồ, sđồ, thánh đồ, sao lại không chấp nhận "mục đồ?" Nguyện Chúa soi sáng và cảm động mỗi người trong Hội Thánh.

Cảm tạ Chúa!

Mục ĐTim Huỳnh.

Thị Dục Huyễn Ngã

Theo sự suy nghĩ của tôi, người chăn chiên nào nhận ra sự ngạo mạn của danh xưng “mục sư” thì hãy mạnh dạn bước ra khỏi vũng lầy này. Còn chiên của Chúa nên dạy bảo nhau về tinh thần khiêm cung trong việc hầu việc Chúa. Nếu chúng ta cảm thấy mình không thể chịu nổi sự ngạo mạn đó, đã làm hết sức mà pastor của mình vẫn khoái được xưng tụng như người Pharisi (nghĩa là REv. Dr. Nguyễn Văn A, Ph.D. MBA) thì nên đi nhóm với một Hội Thánh người Mỹ, đặt sự giảng dạy trên lời Chúa. Pastor người Mỹ bình dân hơn mục sư Việt Nam. (vẫn có ông cao ngạo, nhưng vẫn kiếm ra được Hội Thánh giảng dạy lời Chúa, và pastor khiêm nhường.) Xin lưu ý là danh xưng chỉ mới một nữa vấn đề. Cái tinh thần đứng bên trong mới quan trọng. Nhận mình là mục tử thì tốt hơn mục sư. Nhưng nếu “mục tử” mà vẫn thích được xưng tụng như “mục sư” (nghĩa là, Mục Tử Đáng Kính Nguyễn Văn A, Ph.D., MBA) thì vẫn như không. Đứng đàng sau vấn đề thích được xưng tụng là cái gọi là Thị Dục Huyễn Ngã, tức là cái ham muốn, nhu cầu để cái ngã của mình được nâng lên do được nhiều người nhận biết. Do vậy, cái chính Cơ-đốc nhân phải diệt cho được không phải là chỉ là danh xưng mà là cái audience của mình. Audience là khán thính giả đang ngồi nghe/xem mình giảng, nói, v.v. Phải diệt cho được cái Thị Dục Huyễn Ngã thì cái thích được xưng tụng nó chết theo.

diệt audience

Bởi vậy Chúa Jesus mới phán kẻ lớn trong thiên đàng phải là kẻ nhỏ trong thế gian, người hầu việc Chúa phải là người rữa chân cho kẻ khác. Khi mình rữa chân cho kẻ khác chắc mình không có thì giờ để để ý xem có bao nhiêu người đang chờ nghe mình nói, “phán”, có bao nhiêu người trầm trồ cái title Rev. Dr. XYX, Ph.D, MBA của mình.

Cập nhật bài gợi ý

Kính mời quý vị và các bạn trở lại bài viết chính phía trên để xem phần cập nhật (mầu đỏ). Tôi đã email ra cho hơn 400 vị Mục Sư Việt Nam trong và ngoài nước giới thiệu bài góp ý. Đến nay đã có 4 vở hải ngoại hồi âm:

- Một vị yêu cầu tôi lấy tên của ông ra khỏi danh sách gửi email của tôi. Ông vẫn gọi tôi là "Tim Huỳnh thân mến" nhưng không muốn nhận email của tôi nữa.

- Một vị tán đồng lời gợi ý và hứa sáp dụng cho bản thân.

- Một vị không phê phán gì hết nhưng trong email vẫn gọi tôi bằng danh xưng "mục sư" và tự xưng là "mục sư."

- Một vị cho biết là đã học hỏi thêm được những ý mới lạ.

Đối với quý vị muốn giữ nguyên danh xưng "Mục Sư" thì tôi vẫn trang trọng gọi quý vị là "Mục Sư" vì Chúa không cấm tôi gọi người khác là "Mục Sư." Mong quý vđừng vì sự góp ý này mà trở thành khó chịu và dè dặt với tôi.

Tim Huỳnh.

Danh xưng

Thưa ông TmHùynh quý mến !

Tôi chỉ là một kẻ hèn mọn và xấu xa,nhưng ơn Chúa đã thương xót tôi ban cho tôi làm con Ngài và được dự phần làm anh em với ông và con cái Chúa khác.Thưa ông tôi rất thích những điều ông tâm đắc trên :"TLBG"Tôi Amen với Ông về cách xưng hô trong cộng đồng Mục sư ở Việt Nam.Nhưng điều quan trọng là những tín đồ nhóm tại các HT tư gia rất ít hiểu biết.Còn các Mục sư thì lại chẳng hiểu nhiều ( các mục sư này do các mục sư đi trước phong để làm giúp việc họ,ví dụ vùng sâu hay bị bắt bớ ,vậy là mục sư Thành phố phong cho ông A chức Mục sư sai đi thay) Dĩ nhiên phải nghe thầy chỉ đạo,ai không nghe,Nghỉ.Và những vị thích người ta tôn mình lên là cávị "Tổng "này nọ.Ngán lắm rồi là những nhóm tư gia (người lãnh đạo)Có Hội Thánh mười năm nay từ 50-60 tín đồ nay còn vài chục nhóm lại nhưng cứ mỗi năm theo báo cáo có vài trăm người tin Chúa .vậy đấy Chúa họ còn không sợ vậy họ sợ ai?Có ông "Tổng "ở Hội Thánh tư gia tầm cỡ nhất Việt nam nhưng hành sử còn hơng những người hành nghề xã hội đen.Vậy theo thiển ý của tôi ,Chúng ta cùng nhau cầu nguyện xin Đấng chủ Tể hành động cứu Hội Thánh của Ngài tại Việt Nam.Kêu gọi các Đầy tớ Chúa có tâm huyết với cộng việc Chúa tuyên truyền cho dân sự hiểu biết và các ms cũng hiểu biết .

Kính

Chào nguoitruyendao

Cám ơn lời ủng hộ của bạn. Thc trạng của Hội Thánh chung và Hội Thánh Việt Nam đầy dẫy những sđau lòng là vì chúng ta đang ở vào thời kỳ cuối cùng: sự bội đạo đang xảy ra khắp nơi dưới nhiều hình thức. Một mặt chúng ta cứ tiếp tục cầu nguyện và chúc phước cho Hội Thánh (chúc phước theo tinh thần của Dân Số Ký 6:24-27). Mặt khác chúng ta dùng lời sau đây để tan ủi:

"Kẻ nào không công bình, cứ không công bình nữa; kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình, cứ làm điều công bình nữa; kẻ nào là thánh, cứ làm nên thánh nữa! Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm." (Khải Huyền 22:11, 12)

Nguyện ân điển và bình an của Đức Chúa Trời luôn bao phủ bạn.

Tim Huỳnh.

Danh xưng

Cảm ơn Tim Huỳnh có bài này rất tốt nó giúp rất nhiều người hiểu mình là ai và đang làm gì cho ai.

Trong thực tế chính "cơ chế" kiểu "tổng bí thư" đã chuyển những "kẻ hèn mọn nhất" thành kẻ to quyền nhất kiểu "cán bộ là đầy tớ nhân dân".

Thực ra Lẽ Thật của Chúa rất giản dị nhưng xác thịt đã làm phức tạp bằng các nhốt vào các quan điểm giáo lý chuyên chế.

Chúng tôi cũng từng chia sẽ điều này cho nhiều tín hữu nhưng họ sợ mục sư còn hơn là sợ Chúa nên ai cũng khúm núm trước các ms như người CG khúm núm trước hàng giáo phẩm của họ vậy. Ở rất nhiều các HT tư gia có hiện tượng thần tượng mục sư.

Tôi hoàn toàn ủng hộ việc bỏ chữ "Sư" đi vì sư chỉ ở chùa mới có.

Dz

Một gợi ý khác về ý nghĩa của "mục sư"

Tim Huỳnh thân yêu,
Thấy em định nghĩa chữ Mục-sư khó khăn quá nên anh góp ý kiến cùng em: Nên xem Hán Việt TĐiển của Thiều Chửu trang 171 vđịnh nghĩa chữ SƯ. Chữ SƯ được dịch trong Kinh Thánh dùng cho chữ MỤC SƯ không có nghĩa là THẦY, nhưng chữ SƯ đó chỉ có nghĩa là một ĐOÀN ĐÔNG NGƯỜI như SƯ ĐOÀN (một đoàn người gồm ba tiểu đoàn), hay KINH SƯ (là nơi đô hội gồm rất đông người) cho nên MỤC-SƯ có nghĩa là một NGƯỜI chăm xem một bầy chiên hay chăm sóc một sđông người, chăm sóc một đoàn thể nhiều người. Trong HÁN VIỆT TĐIỂN của Nguyễn Văn KHÔN cũng định nghĩa chữ SƯ (trang 806) không chỉ có một nghĩa duy nhất là THẦY mà còn có nghĩa là NHIỀU, cũng có nghĩa là BẮT CHƯỚC, cũng có nghĩa là MỘT ĐƠN VỊ gồm BA TIỂU ĐOÀN.
Cầu Chúa ban cho em nhiều ơn phước để hầu việc Chúa đắc lực hơn. Đừng hổ thẹn khi tự nhận mình là MỤC SƯ = NGƯỜI CHĂM SÓC MỘT NHÓM ĐÔNG NGƯỜI, chứ không phải là VỊ THẦY CHĂM SÓC.
Anh,
Christopher.
Kính chào anh Christopher,
Cám ơn anh đã nhắc nhỡ em về ý nghĩa "sư" = nhiều. Đúng như anh nói, "sư" còn có nghĩa là nhiều. Khi được dùng làm danh từ thì có thể là "thầy" hoặc "sư" (một đơn vị quân đội), khi được dùng làm tĩnh từ thì có nghĩa là "nhiều," cách viết giống nhau (  )
Tuy nhiên, trong chữ "mục" ( ) nghĩa là "nuôi súc vật ngoài đồng" hoặc "quan cai trị một Châu" đã bao gồm cái ý nghĩa chăm sóc một bầy nhiều súc vật hoặc cai trnhiều người. Trong danh xưng MỤC SƯ thì chữ "sư" được dùng làm danh tđi sau danh động từ "mục" và như vậy chỉ có nghĩa là "ông thầy chăn chiên" không thể mang nghĩa "một người chăm sóc một bầy nhiều con chiên." Tương tự như vậy trong chữ "gia sư" = "ông thầy được nuôi trong nhà" chứ không phải = "cái nhà chứa được nhiều người." Nếu chúng ta dịch "mục sư" (thầy chăn) = chăm sóc một bầy nhiều con chiên, thì "mục địch" (cái còi của kẻ chăn) sẽ = chăm sóc cái còi, "mục trường" (bãi cho súc vật ăn) sẽ = chăm sóc bến bãi, "mục vịnh" (bài hát của kẻ chăn) sẽ = chăm sóc các bài ca của kẻ chăn, "mục đồng" (đứa bé chăn bầy) sẽ = chăm sóc một đứa bé, và  "mục phu" (người đàn ông chăn bầy) sẽ = chăm sóc một người đàn ông... hoàn toàn không đúng với ngữ pháp.
Muốn nói đến một người chăm sóc một sư đoàn thì đã có danh từ "sư trưởng." Ngay cả danh từ "sư trưởng" cũng bao gồm hai nghĩa: (1) viên tướng cai trị một "sư" hoặc (2) ông "sư" trong một môn phái. Nếu muốn hiểu chữ "sư" trong danh xưng MỤC SƯ ( 牧   ) có nghĩa là "số nhiều" thì MỤC SƯ sẽ có nghĩa là "sư đoàn những người chăn bầy" chứ không thể hiểu theo nghĩa "một người chăn một sư đoàn chiên" vì như trên đã nói, trong chữ "mục" đã bao hàm ý số nhiều, và nguyên tắc ghép chữ không cho phép chúng ta hiểu như vậy. Khi hỏi những người Trung Hoa vý nghĩa của chữ "sư" trong danh từ "mục sư" thì tất cđều hiểu đó chính là chữ "sư" trong "sư phụ" vì nguyên tắc ghép chữ buộc phải hiểu như vậy.
Em thà rằng: bất cứ việc gì tựa như điều ác thì phải tránh đi. Em thà tránh xưng nhận mình là "mục sư" để khỏi phạm tội còn hơn là xưng nhận mình là "mục sư" mà trong lòng cứ phập phồng không biết như vậy có phạm thượng, chống nghịch lời Chúa hay không, bởi vì Thánh Kinh cho biết: làm bất cứ điều gì mà không bởi đức tin là phạm tội.
Kính chúc anh sức khoẻ và hồng ân của Thiên Chúa chúng ta.
Tim Huỳnh.

Nguyên tự "mục sư" trong chữ Hán

Nguyên t "mục sư" trong chữ Hán:

牧  

 

Cám ơn anh TimHuynh, bài

Cám ơn anh TimHuynh, bài viết của anh hay quá.  Cho em hỏi thêm 1 tí.

Làm sao anh TimHuynh biết nguyên tự chữ Hán của "Mục Sư" vậy ?

Em thấy chữ sư cũng có nghĩa là người có 1 tài riêng biệt.  "Mục Sư" mình có thể hiểu là người chuyên chăn bầy được không vậy anh?

Link  từ diển Hán Nôm Việt  www.huesoft.com.vn/hannom/

Thân

Danh xưng

Kính Tim Huỳnh ,

Có những lý do mà tôi muốn nói lên lòng cảm phục bạn trong vấn đề danh xưng , tôi mạnh dạn gọi là bạn thay vì danh vị mà tôi đã gọi theo lệ thường để gọi một người chăn , tôi gọi là bạn với tấm lòng kính trọng chân thật trong tận đáy lòng của tôi.

Danh xưng thật sự không quan trọng nếu người được kêu gọi chăm sóc bầy chiên của Chúa coi đó là thứ yếu , chỉ hết lòng làm công việc mình nhưng theo tôi , danh xưng , nó có ảnh hưởng đến suy nghỉ và thái độ của người được gọi.

Nhiều năm về trước người ta gọi tôi bằng thầy trong trường học khi mà những  học sinh chỉ ít hơn tôi vài tuổi đời . Buổi đầu tôi thân thiết với họ , thái độ của tôi đối với họ như là bạn , những người bạn nhỏ . Thời gian dần qua danh xưng thầy, trò trở thành quen thuộc cộng thêm thái độ kính trọng của học trò khiến cãm nghỉ và thái độ tôi thay đổi .

Tôi tự cho mình là khác hơn họ , tôi nghỉ rằng tôi cao trọng hơn họ , tôi là người trên , kẽ trước và khi tôi làm những điều ích lợi cho họ tôi coi đó là ân huệ của tôi đối với họ , không còn là bổn phận và trách nhiệm mà tôi phải làm . Có thể bởi kinh nghiệm chủ quan đó mà tôi coi trọng danh xưng vì theo tôi nó thật sự ảnh hưởng đến suy nghĩ và thái độ của mình . Tôi chỉ muốn nói đến khía cạnh tâm lý mà thôi vì những phân tích theo kinh thánh thì bạn đã làm rồi ( bài viết ở trên ).

Đây thật sự là vấn đề của những người chăn , những con cái Chúa có nói ra , nói vào cũng chẳng thay đổi được gì , chỉ khi nào họ tự mình làm điều ấy . Tôi cũng biết có những người chăn đã bàn nhiều về vấn đề nầy , theo họ danh xưng Mục Sư nên được thay đổi nhưng chưa thấy một sự bắt đầu nào cho đến nay .

Thay đổi những điều mà đã quen thuộc , gần gủi và gắn bó với mình từ bao lâu nay không phải là dể dàng nhưng sự thay đổi nào cũng có sự bắt đầu .

Tim Huỳnh đã bắt đầu làm công việc nầy .

Nguyền xin Chúa thêm sức cho bạn .

Huy dung

Chào bạn Chi Lạ Rứa

Chào bạn Chi Lạ Rứa, tôi dựa vào Từ Điển Hán Việt của Đào Duy Anh. Bạn cũng có thể tra nguyên tự "mục sư" qua bộ từ điển Hán Việt trên mạng của Thiều Chửu: http://pagesperso-orange.fr/dang.tk/langues/hanviet.htm

Chữ nghĩa có quy luật và chúng ta không thể tùy tiện muốn dùng nghĩa nào thì dùng. Đúng là chữ "sư" còn được dùng để chỉ người có tài riêng biệt, nhưng chính trong khi dùng như vậy, chữ "sư" đã mang cái ý nghĩa "sư phụ" rồi. Hãy so sánh các chữ: nhạc sư với nhạc sĩ và vũ sư với vũ công...

Tim Huỳnh.

Cám ơn bạn huydung

Cám ơn bạn huydung đã có những lời khích lệ. Tôi tự nghĩ, chức vụ Chúa trao cho mỗi người trong Hội Thánh là để chúng ta ý thức được nhiệm vụ của mình chứ không phải để chúng ta tạo ra phẩm trật (giáo phẩm). Trước mặt Chúa tất cả chúng ta đều là anh em, đều là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, và chúng ta thảy đều phải coi người khác là tôn trọng hơn mình  chứ không phải tự xưng hay muốn người khác phải gọi mình là "đáng tôn kính!"

Bạn cứ tự nhiên gọi tôi là "bạn" hoặc "Tim Huỳnh." Chẳng phải chúng ta vẫn gọi các sứ đồ bằng tên riêng của họ như Phi-e-rơ, Phao-lô... sao?

Nguyện sự thương xót của Chúa bao phủ chúng ta.

Tim Huỳnh.

Cám ơn anh TimHuynh một

Cám ơn anh TimHuynh một lần nữa. 

Em có vô trang web anh cho nhưng lại nảy sinh ra 1 vấn đề khác, mong anh giúp hiểu rõ thêm.  Nguyên tự "mục" anh nói là mục vụ, trong khi đó em lại thấy là kẻ chăn.  Nếu chữ mục đã là "kẻ" rồi thì mục sư là thầy kẻ chăn ??

cam on lan nua

Chữ "mục" trong tiếng Hán

Thưa bạn Chi Lạ Rứa.

Chữ "mục" trong tiếng Hán khi đứng một mình chỉ có nghĩa là "sự chăn nuôi" chứ không có nghĩa là "kẻ chăn nuôi" hay "người chăn nuôi." Muốn nói về người chăn nuôi thì phải thêm các danh từ chỉ về người như: đồng, phu, tử...

- mục đồng = đứa bé chăn nuôi - mục phu = người đàn ông chăn nuôi - mục tử = người chăn nuôi (không phân biệt lớn, bé)

Từ Điển Hán Việt Thiều Chửu phạm nhiều lỗi văn phạm tiếng Việt nhưng đó là nơi chúng ta có thể tham khảo trên mạng về nguyên tự tiếng Hán. Riêng bộ Từ Điển Hán Việt của Đào Duy Anh là bộ từ điển xuất sắc vì Đào Duy Anh là một học giả về ngôn ngữ học.

Trong tiếng Hán Việt, "đồ" là "học trò" và "sư" là "thầy." Mục đồ là học trò chăn bầy, mục sư là thầy chăn bầy. Chữ nghĩa rất rõ ràng, vấn đề là chúng ta có muốn sửa sai hay không mà thôi.

Ngoài ra, cũng còn nhiều sự dùng sai chữ trong Hội Thánh cần phải được sửa chửa, như cách dùng "chúc phước" và "ban phước."

- chúc phước chỉ dùng cho loài người - ban phước dành riêng cho Đức Chúa Trời

Chúng ta không nên nói Đức Chúa Trời chúc phước, mà phải nói Đức Chúa Trời ban phước. Đức Chúa Trời là Đấng  ban phước, Ngài không bao giờ chúc phước. Nếu Ngài chúc phước cho chúng ta thì ai sẽ ban phước cho chúng ta?

Nếu thói quen kêu "trời ơi" hoặc chửi thề, văng tục có thể nhân danh Chúa để từ bỏ được thì lẽ nào thói quen xưng hô "mục sư" và xin Chúa "chúc phước" lại không thể nhân danh Chúa mà từ bỏ được? Phi-líp 4:13 ở đâu rồi? Tôi có thói quen dùng danh từ "đồng bào" nhưng khi được một nữ giáo sĩ ở Việt Nam, trong một buổi học Thánh Kinh trên mạng, nhắc tôi đừng dùng hai chữ đó nữa thì tôi lập tức hiểu ngay đây là danh từ có nguồn gốc từ truyền thuyết "con rồng cháu tiên." Tôi lập tức cám ơn người chị em trong Chúa và tự nhắc mình từ nay phải bỏ đi danh từ "đồng bào." Tuy nhiên, thói quen khó bỏ cho nên vẫn cứ lâm vấp cho đến khi tôi cầu nguyện xin Chúa giúp tôi từ bỏ, và tôi đã từ bỏ được.

Thân mến.

Tim Huỳnh.

Phần thảo luận chuyển từ trang "Thăm dò ý kiến"

Dưới đây là phần thảo luận được chuyển từ trang "Thăm dò ý kiếnn:"

Danh xưng
Danh xưng mà tôi thích nhất để thay thế cho Mục Sư là Mục sự ,  người lo công việc chăm sóc bầy chiên . Mục đồ cũng rất hay

 

Mục Sư

Theo tôi nghĩ thời điểm hiện nay không phải là lúc thay đổi cái đã gắn bó với chúng ta hơn 90 năm rồi, ai nấy cũng đều quen miệng gọi như thế, nếu muốn thay đổi thì đâu phải dễ.....Theo tôi vấn đề không phải gọi bằng " mục sư", " mục đồ", "mục tử" hay là gì khác mà cái quan trọng là chức vđó có phải được Chúa kêu gọi và xức dầu không ? Nếu không có thì dầu có đổi sang danh xưng nào nghe có vẻ khiêm nhường đến đâu thì cũng không có ích lợi gì cho công việc Chúa. Hội Thánh Chúa chung cần phải được dầy dẫy ĐTL, mang lấy quyền phép của Chúa để làm những công việc Chúa muốn, cứu đồng bào tội nhân, chứ không phải làm những việc mà mình tưởng là đang làm công việc Chúa, cần phải được Chúa soi sáng để sống và làm theo lời Chúa chứ không phải là giáo điều, giáo nghi mà chẳng có sự sống bên trong.....Thật hiếm thay để kiếm ra được những HT đầy dẫy ĐTL thật s

HB2007

 

Amen với Bạn Hb2007.
Amen với Bạn Hb2007. Danh xưng jì cũng hok quan trọng bằng chức vụ người chăn có được Chúa xức dầu cho hay ko.Đừng câu nệ danh xưng,hãy làm hết mình cho công việc Chúa .Danh xưng dù có hèn mọn nhưng con người kêy căng ,trịch thượng thì cũng vô nghĩa.Quan trọng là sống và làm việc cho CHúa,vì Danh Chúa và vì HT chung của Chúa 
Cám ơn

Cám ơn Iilovegod

cuối cùng cũng có một user đã đồng ý với mình, Cám ơn Iilovegod nhiều.

Không biết mọi người có biết vở HT trà Vinh có một thầy chùa tin chúa và dẫn thêm một số người tin Chúa nữa nên dân chúng bất bình đòi chính quyền phải giải quyết. Chính quyền đã bắt thầy chùa đó và những người tin Chúa khác đánh đập...... Thấy Chùa đó phải chạy lên thành phố Hồ Chí Minh và tường trình vụ việc cho Tổng Liên Hội, TLH xuống tỉnh trà vinh xác minh lại, thấy là đúng sự thật nên đã làm đơn kiện lên Thủ Tướng chính phủ.......Xin quí con cái Chúa cầu nguyện nhiều cho vì ma quỉ thấy thì giờ mình chẳng còn bao lâu nên giận hoảng và bắt bớ HT Chúa và những người tin nhận Chúa. Xin Chúa thêm sức cho người anh em mới vừa tiếp nhận Chúa, xinj đừng ngại vì bị bắt bớ, nhưng hãy mừng , vì phần thưởng ở trên trời sẽ là lớn lắm. Chúng tôi sẽ tiếp tục cầu nguyện cho anh và cho công việc Chúa ở Trà Vinh cũng như Chúa làm việc, bày tỏ quyền năng của Ngài trên chính quyền, hầu cho công việc Chúa được thuận lợi và phát triển, cầu nguyện cho TLH có sức mới và ơn của Chúa  để giải quyết ổn thỏa mọi việc trong" đối nộI" và " đối ngoại"

Vấn đề là...

Vấn đề là chúng ta phải "hiệp một ý trong Chúa" (Phi-líp 4:2). Hiệp một ý trong Chúa có nghĩa là ai nấy có "đồng một tâm tình với Đấng Christ" (Phi-líp 2:5), và "thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật" (Giăng 4:23, 24).

Vấn đề không phải là sở thích của chúng ta hay "chữ nghĩa không quan trọng." Sở thích của chúng ta phải đặt dưới ý muốn của Chúa. Khi chúng ta lý luận rằng chữ nghĩa không quan trọng là chúng ta đã vô hình chung bác bỏ tính "vô ngộ" của Thánh Kinh vì Thánh Kinh được ghi lại bằng chữ nghĩa. Người không tin Chúa còn biết nói: "Danh chính, ngôn thuận" (Khổng Tử) nghĩa là: Danh có chính thì lời nói mới thuận, huống hồ gì những đặc sứ của Đức Chúa Trời giữ nhiệm vụ chăn dắt và làm gương cho bầy chiên của Chúa?

Nếu danh xưng "mục sư" là không đúng thì cần phải bãi bỏ, nếu danh xưng "reverend" là không xứng thì cần phải bãi bỏ. Chẳng những bãi bỏ mà còn phải ăn năn xưng tội với Chúa.

Không thể cho rằng vì đã dùng quen cho nên không bđược. Trong "ngày phán xét người ta skhai ra mọi lời hư không mà mình đã nói" (Ma-thi-ơ 12:36) thế thì những danh xưng "hư không" thì sao?

Đây là trận chiến riêng tư của người hầu việc Chúa trong chức vụ chăn bầy trước mặt Chúa, là Đấng đứng đầu của mọi kẻ chăn chiên!

Nguyện Đức Thánh Linh cảm hóa lòng những người chăn bầy Việt Nam để ai nấy hạ mình học tập theo Đấng "có lòng nhu mì và khiêm nhường"

Tim Huỳnh.

 

từ ngữ thay đổi theo thời gian

Chào các bạn!

Tôi thấy các bạn quá quan trọng hóa về từ ngữ. Theo tôi, gọi là gì không quan trọng. Từ ngữ thay đổi theo thời gian..., ý nghĩa của nó được hiểu như thế nào tùy trường hợp sử dụng. Ngày xưa,  thầy là lớn lắm. Thầy còn hơn cha mẹ, nhưng ngày nay, thầy , cô giáo không được tôn kính như ngày xưa, mà đơn giản nói về một người làm nghề giáo viên, còn nữa, từ thầy có thể hiểu là phép lịch sự thông thường.... Gọi một người là thầy, cô không hẵn vì họ là thầy giáo, cô giáo, mà có thể đó cũng là cách gọi lịch sự của một người lớn gọi một người nhỏ hơn mình. Khi khi một người nói : "thôi đi mẹ, thôi đi cô hay thôi đi thầy", từ mẹ, cô, thầy... lúc này không phải đó thật là mẹ, là cô giáo, thầy giáo hay là lịch sự mà chỉ mang ý mỉa mai...

Khi nói đến hoa đêm có người nghĩ đến những cô gái làng chơi, nhưng có người lại liên tưởng đến các loài hoa đêm thật sự, các loàii hoa đêm như Quỳnh, Lài, dạ lý hương... thật trong trắng, ngát hương thơm...Như vậy, khi gọi hoa đêm, chúng ta phải hiểu mình đang nói ở ngữ cảnh nào

Gọi Mục sư hay gọi gì nữa chẳng quan trọng, quan trọng là thái độ của ta đối với người được gọi là thế nào, và thái độ của người được gọi khi mang chức danh mục sư là sao thôi

Nếu muốn bắt bẻ về chữ nghĩa, thì đủ thứ để bắt bẻ. Còn nếu các bạn muốn tìm từ gì cho đúng đắn. Tôi thấy các từ các bạn đưa ra để bình chọn chẳng cái nào gọi là xác đáng cả. Nếu chọn cái đúng hơn, tôi thấy từ linh mục của công giáo có vẻ đúng hơn...

Nếu muốn bắt bẻ về chữ nghĩa, tôi sẽ nói thế này: Chúa nói Chúa là người chăn, và Chúa cũng nói chỉ có một bầy và một người chăn mà thôi...Như vậy, khi gọi một người là người chăn ta xem họ đứng vào vị trí Chúa???Mục tử là tên gọi khác của người chăn chiên. Còn nếu nói tử là con thì mục tử là con của người chăn, con của người chăn đâu phải người chăn làm sao mà chăn dắt đàn chiên được, mục đồ thì cũng như vậy....

Thánh Kinh không thay đổi theo thời gian

Chào bạn rungcat.

Đồng ý với bạn là từ ngữ thay đổi theo thời gian nhưng Thánh Kinh không thay đổi theo thời gian.

Một khi Đức Chúa Trời đã dùng từ ngữ nào đó để bày tỏ lẽ thật và thánh ý của Ngài thì từ ngđó không thể thay đổi. Loài người có thể thay đổi nhưng Đức Chúa Trời là Đấng không bao giờ thay đổi. Nếu Đức Chúa Trời đã dùng danh từ người chăn để gọi những người có nhiệm vụ chăm sóc Hội Thánh của Chúa thì danh tđó không bao giờ thay đổi, chỉ tại loài người chúng ta diễn dịch sai lạc ý nghĩa của danh tđó mà thôi. Vậy, hãy trả lại sự chân thật của lời Chúa cho danh xưng poimēn  = pastor/shepher trong tiếng Anh,  người chăn trong tiếng Việt, và mục tử trong tiếng Hán Việt.

Giăng 10:16 ghi lại lời phán của Đức Chúa Jesus rằng: "Rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi!" là lời tiên tri về chung cuộc của Hội Thánh. Trong khi chđợi ngày phước hạnh đó, chính Đức Chúa Jesus giao nhiệm vụ chăn bầy cho Phi-e-rơ (Giăng 21:15-17) và lập ra chức vụ chăn bầy (số nhiều trong nguyên tác) trong Hội Thánh (Ê-phê-sô 4:11). Đức Thánh Linh xác nhận qua ngòi bút của SĐồ Phi-e-rơ: Đức Chúa Jesus là Đấng đứng đầu các kẻ chăn - trong nguyên tác là archipoimēn  = head shepherd hoặc chief shepherd trong tiếng Anh. Nếu không có ai khác là người chăn dắt bầy chiên của Chúa thì làm thế nào Chúa mang danh hiệu Đấng đứng đầu các kẻ chăn? Đức Thánh Linh qua môi miệng của Phao-lô cũng xác nhận rõ ràng: "Anh em hãy giữ lấy mình, mà luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình" (Công Vụ Các SĐồ 20:28. Đức Thánh Linh qua ngòi bút của Phi-e-rơ khuyên dạy những người giữ chức vụ chăn bầy của Chúa như sau: "Hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm, chẳng phải quản trị phần trách nhậm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy. Khi Đấng làm đầu các kẻ chăn chiên hiện ra, anh em sẽ được mão triều thiên vinh hiển, chẳng hề tàn héo" (I Phi-e-rơ 5:2-4).

Như vậy:

1. Hiện nay có nhiều người được Chúa giao cho chức vụ chăn bầy và có nhiều bầy chiên của Chúa ở rãi rác khắp nơi giữa thế gian.

2. Rồi s có một ngày tất cả bầy chiên của Chúa nhập lại chung một chuồng, lúc bấy giờ chỉ còn lại một người chăn duy nhất là Đấng Christ, những người chăn khác được ngh ngơi khỏi chức vụ, nhận lãnh mão triều thiên vinh hiển dành riêng cho những người chăn.

Kết luận:

Hãy trở về với danh xưng khiêm nhường do chính Đấng Christ đã đặt cho những người được Ngài gọi vào chức vụ chăn bầy: Người chăn, Mục tử. Còn nếu không bằng lòng cách dịch như vậy, thì hãy dùng tiếng Anh: Pastor hoặc Shepherd. Còn nếu "khó tính" hơn nữa thì hãy phiên âm danh tpoimēn ra mà dùng, nhưng đừng dùng danh xưng "mục sư"

Tim Huỳnh.

T.B.: Chữ "tử" trong tiếng Hán còn có nghĩa là "người" như trong: Sĩ tử, Khổng tử, quân tử... tùy theo ngữ cảnh mà hiểu. Câu "Tôi hôn lên má của má tôi" dứt khoác không có nghĩa là "Tôi hôn bà ngoại của tôi."

Từ ngữ

 

Chào Tim Huỳnh!

Bạn vẫn chưa hiểu được ý tôi…Tôi muốn nói từ ngữ thay đổi theo thời gian. Ngày xưa, chữ thầy là một cái gì rất cao quý nên Chúa mới bảo không được gọi ai là thầy. Bây giờ chữ thầy (sư) không còn mang ý nghĩa như vậy…Ngày nay ai cũng có thể được gọi là thầy là sư mà… Thành ra nếu bạn gọi mục sư nhưng bạn không bao hàm trong đó ý nghĩa tôn kính mà chỉ đơn thuần là người chăm sóc Hội Thánh Chúa, là tôi tớ Chúa thì có gì đáng để nói đâu. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nói đùa: Con cái phải hơn tôi tớ, mình là tín đồ, là con cái Chúa thì mình phải hơn mục sư là tôi tớ Chúa mà. Tôi tớ của chủ thì cũng là tôi tớ của con chủ…Mục sư hầu việc Chúa, phục vụ Chúa, thì cũng phải phục vụ, hầu việc cho con cái Chúa… Như vậy, từ mục sư không là cái gì quá thiêng liêng để bàn cãi…, chú trọng từ ngữ quá để làm gì: Văn tự làm cho chết nhưng Thánh Linh làm cho sống

Thân ái

Từ ngữ và sự lạm dụng từ ngữ

Chào rungcat.

Không phải là tôi không hiểu ý của bạn mà là tôi không chấp nhận sự giải thích/lý luận của bạn. Từ ngữ có chđứng nhất định trong quan hệ giữa chúng ta với nhau và với Chúa. Có những nguyên tắc để sử dụng từ ngữ. Nếu vì không biết mà vi phạm thì có thể bỏ qua, nhưng nếu đã biết rồi mà vẫn cố tình tùy tiện lạm dụng thì là thái độ vô nguyên tắc.

Không thể vì có một số người tùy tiện lạm dụng từ ngữ mà chúng ta bắt chước theo. Hơn nữa, chữ "sư" trong tiếng Hán và Hán Việt cho đến nay vẫn chưa hề thay đổi ý nghĩa. Chữ "sư" vẫn luôn luôn mang ý nghĩa là người mà môn đồ của người ấy phải hoàn toàn đầu phục người  ấy như người nô lệ bị bán cho một người chủ thì sự sống sự chết của người nô lđó hoàn toàn thuộc về người chđó. Chkhác một điều là người nô lệ phải đầu phục chủ vì không có quyền chọn lựa nhưng môn đđi theo "sư", đầu phục "sư" thì có quyền chọn lựa.

Nếu thật sự từ ngữ không quan trọng thì tại sao chúng ta không vứt bỏ những danh xưng  "dường như " phạm thượng, "dường như" trịch thượng, "dường như" kiêu ngạo," vì Chúa dạy chúng ta phải tránh chẳng những điu ác mà còn phải tránh luôn những gì "dường như" là điều ác. Văn tự làm cho chết, Thánh Linh làm cho sống đúng là rất thích hợp đáp dụng cho vấn đề danh xưng "mục sư." Vậy, hãy vứt bỏ cái danh từ làm cho chết ấy đi để có thể trở thành những người chăn nhu mì, khiêm nhường trong Thánh Linh của Đấng Christ.

Tim Huỳnh.

Danh xưng

Tôi nhận thấy quí vị rất sốt sắng để HT của Chúa thay đổi danh xưng từ Mục Sư sang Mục tử...., và tôi nhận thấy những bài viết của quí vị phân tích rất đúng......nhưng tôi cũng thắc mắc rằng nếu danh xưng" Mục sư" là trịch thượng sao Chúa không bày tỏ điều đó cho những tôpi tớ của Chúa để họ giảng dạy và có hướng thay đổi, trong quá khú Ht Chúa có nhiều MS đầy ơn như MS TỐng Thượng Tuyết, Billy Graham.....Họ cũng mang danh Mục sư vậy, và họ vẫn đầy ơn, chức vụ họ vẫn sống động vậy. Các anh em muốn thay đổi trừ phi CHúa Thánh Linh mặc khải cho các đầy tớ Chúa, cho họ thấy điều sai và điều tốt nhất cho danh xưng nào thay thế cho MS, còn bằng không anh em phải lập ra một HTTLVN khác, dựa trên lời Kinh Thánh và những người lãnh đạo HT được gọi là Giám Mục như trong Itimôthê 3:1. Anh em mong có sự thay đổi trong HTTLVN về danh xưng MS thì trước tiên anh em phải làm cho HTTLVN thay đổi quan điểm về: Các ân tứ trong Kinh Thánh vẫn còn có thật trong thời kỳ sau rốt nầy và những người thực hiện ân tứ của Chúa Thánh Linh không phải là.......quỉ mà họ là những người đầy dẫy ĐTL. Hội thánh muốn phát triển phải cậy vào quyền phép của Chúa Thánh Linh, chú không phải cậy vào tổ chức và sức riêng và những chương trình hoạch định sẵn rồi mời Chúa chuẩn y, mà muốn mặc lấy quyền phép của Chúa Thánh Linh thì phải nhận phép báp tem bằng Đức Thánh Linh và ......VV.....Sau đó HT Chúa phải trông chờ Chúa Thánh Linh hướng dẫn để thực hiện công việc Chúa chứ không còn tự hoặch định kế hoạch rồi cầu nguyện giao cho Chúa. Nếu anh em có thê làm được như vậy, thì mới có chuyện thay đổi danh xưng Mục sư thành Mục tử

Nên Giử Từ 'Mục sư'

Quý ông bà anh chị em thân mến,

Đọc qua những bài bình luận về nên hay không nên chuyển đổi danh xưng 'Mục sư' sang một danh mới, tôi thấy hơi băn khoăn. 

Trước hết, từ ngử Mục sư nếu hiểu cho đúng, là một từ ngữ ra đời trong bối cảnh hán việt và luân lý Á đông 'quân sư phụ' đậm nét; do đó để bày tỏ sự kính trọng người chân dắt bầy chiên của Chúa những người đương thời đã sử dụng danh xưng này.  Tại đây chúng ta không nên vội nghỉ và cho là các mục sư kiêu ngạo, đứng ở vị thế thầy của người khác.  Lịch sử giáo hội cho thấy tuyệt đại đa số các mục sư khiêm nhường, nhiều lúc không màng đến danh xưng mà người khác đang gọi họ.

Kế đến, việc kêu gọi tìm kiếm một danh xưng mới cho người chăn trong bối cảnh hiện tại thấy có nên chăng? Việt Nam đang có hơn 86 triệu linh hồn nhưng vỏn vẹn chỉ có khoảng 2 triệu người biết Chúa.  Tốc độ tăng trưởng Hội thánh chậm hơn tốc độ tăng trưởng dân số.  Vấn dề truyền giáo mới là quan trọng và cấp bách; những vấn đề khác thiết nghỉ chưa cần thiết.

Nếu một mực đòi hỏi phải thay đổi danh xưng, thậm chí đã dẫn đến tranh cải và có người đã ngụ ý phê phán về sự khiêm nhường của các mục sư, thì tôi nghỉ chúng ta đã bỏ phí một phần năng lực và gây khủng hoảng cho một công việc nhỏ, không quan trọng.

Xin Chúa cảm động, soi sáng để mỗi chúng ta xoay trở lại, thấy ra việc bồi dưởng tâm linh cách cá nhân, công tác truyền giáo, tổ chức Hội thánh, đào tạo lảnh đạo, phát triển sách báo & ảnh hưởng Cơ Đốc giáo, cùng những việc tương tự là cấp thiết lúc này, hầu cho năng lực, thì giờ, và tâm huyết sẽ được sử dụng cách tối ưu, làm sáng danh Cha của chúng ta.

Xin Chúa ban ơn cho tất cả quý độc giả.

Kính mến trong Chúa,

Thông Xanh Tre Vàng

Chào bạn hb2007

Chào bạn hb2007.

Chỉ có người Trung Hoa và người Việt Nam mới dùng danh xưng "mục sư" mà thôi. Người Trung Hoa dịch pastor thành mục sư vì  họ có nền văn hóa Nho Giáo "Quân Sư Phụ." Người Việt dịch pastor thành mục sư vì tiêm nhiễm văn hóa Nho Giáo của người Tầu. Ông Billy Graham không hề dùng danh xưng mục sư, ông dùng danh xưng người chăn (pastor), chỉ tại người Việt Nam gọi ông là mục sư mà thôi.

Việc thay đổi danh xưng mục sư là việc riêng của mỗi người chăn, không liên quan gì đến bầy chiên. Chúa không cấm bầy chiên gọi người khác bằng sư nhưng Chúa cấm  môn đồ của Chúa để cho người ta gọi mình bằng sư. Ai muốn được gọi bằng sư thì chúng ta cứ gọi họ bằng sư.

Chúa đã ban Thánh Kinh cho chúng ta và Chúa cũng ban Đức Thánh Linh cho chúng ta. Chúng ta có Thánh Kinh để hiểu biết ý Chúa. Chúng ta có Đức Thánh Linh để giúp chúng ta hiểu biết đúng lẽ thật của Thánh Kinh và có năng lực làm theo lời Chúa nhưng vì chúng ta quá kiêu ngạo, trịch thượng, khinh dễ lời Chúa, làm buồn Đức Thánh Linh cho nên từ người chăn đến bầy chiên đều bị mất phước và thiếu ơn (dĩ nhiên là lúc nào cũng có những người không quỳ gối trước Ba-anh trong Hội Thánh mà chúng ta ít khi thấy được). Không phải Chúa không cáo trách, phán dạy, mà tại chúng ta cứng lòng. Chúng ta thích tìm đủ mọi lý luận để tiếp tục sự sai trái của mình, kể cả lý luận: "thành thói quen rồi, khó bỏ." Nếu cho rằng thành thói quen rồi khó bỏ thì có thói quen nào sâu đậm hơn là bản chất tội lỗi của chúng ta?

Dĩ nhiên là mọi chức vụ Chúa lập ra trong Hội Thánh và mọi ân tứ Chúa ban phát cho con dân Chúa trong Hội Thánh vẫn tồn tại với Hội Thánh cho đến khi Hội Thánh được cất ra khỏi thế gian. Chính thời buổi có sự bội đạo lớn trước ngày Chúa đến mà các chức vụ và các ân tấy càng cần thiết cho Hội Thánh hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, những người hay đi đây đi đó đặt tay cho người này người kia để cho người ta có thể nói tiếng lạ như mình, những người đụng ai cũng đặt tay cầu nguyện chữa bệnh đuổi quỷ, những người nói tiếng lạ trước công chúng mà không có người thông giải... là những người giả mạo.

Tim Huỳnh.

Phải sống cho đúng lời Chúa trước khi đi ra truyền giáo

Công tác truyền giáo là nhiệm vụ của mỗi môn đồ nhưng nếu mang danh là môn đồ của Chúa mà cố tình không vâng lời Chúa thì làm sao mà đi dạy dỗ muôn dân và dạy cho họ giữ những điều Chúa đã truyền cho chúng ta? Chỉ một điều đơn giản Chúa truyền: Các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy! mà không vâng theo được thì làm sao mà dạy cho người khác "giữ hết cả mọi điều" Chúa đã truyền?

Các mục sư có kiêu ngạo hay không thì mỗi người tự biết lấy, nhưng nếu có ai đó đã hiểu ý nghĩa của danh từ mục sư rồi mà vẫn thích được gọi bằng mục sư thì... chắc là có vấn đề. Còn những mục sư tự xưng là "đáng tôn kính" (reverend) thì chắc là thuộc thành phần... khiêm nhường nhất Nước Trời!

Thiết tưởng, chúng ta hãy trở nên như trẻ thơ. Chúa bảo đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy thì đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy. Thà vâng lời Chúa hơn là ngồi đó đưa ra hàng trăm lý luận nhằm đi ngược lại lời phán tỏ tường của Chúa đến nỗi một đứa con nít cũng có thể hiểu được.

Hỏi / Đáp:

- Chữ sư trong danh xưng mục sư có phải là "thầy" hay không? - Phải. - Vậy, nếu chịu cho người ta gọi mình bằng mục sư tức là chịu cho người ta gọi mình bằng thầy? - Phải. - Có phải Chúa dạy: Các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy!  hay không? - Phải. - Vậy, chịu cho người ta gọi mình bằng mục sư tức là không vâng lời Chúa? - Phải. - Vậy, hãy bỏ danh xưng mục sư đđừng phạm tội với Chúa nhé! - Bỏ không được, quen rồi!

Tôi biết rằng, càng nói nhiều càng bị ghét, nhưng xin chấp nhận bị ghét để có thể nói một lần cho đến nơi đến chốn. Dù cho cả thiên hạ ghét cũng không sao, miễn là điều mình nói không sai lời Chúa dạy.

Cảm t Chúa cho con được dự phần chịu khổ vì bênh vực lẽ thật của Thánh Kinh. Amen.

Tim Huỳnh.

 

Từ ngữ

Chào Tim Huỳnh!

Tôi nghĩ bạn nên hiểu chữ thầy Chúa dùng trong ý nghĩa nào và chữ thầy người ta dùng trong ý nghĩa nào. Trong ý nghĩa "một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy" thì thầy này hoàn toàn khác với người thầy mà ta hoàn toàn tuyệt đối kính trọng, vâng theo. Từ thầy Chúa nói Chúa muốn chúng ta không để người khác có quyền trên mình như là cha, là Chúa và chúng ta hoàn toàn vâng lời họ như vâng lời Chúa nếu chúng ta gọi mục sư trong ý nghĩa đó là không đúng, nhưng từ thầy cũng đơn thuần là người dạy chúng ta một điều gì thì gọi mục sư, gọi thầy là không sai vì "một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy" mà.

Tôi nghĩ rằng không một ai trong HTTLVN gọi mục sư là thầy trong ý nghĩa họ là người Cha tâm linh của mình, và mình phải vâng theo, nhưng đều trong ý nghĩa thầy là người dạy đạo cho mình, chỉ cho mình biết Chúa mà thôi. Từ nhỏ tôi đã được học, đã thuộc lòng và ngày nay tôi vẫn dạy các cháu nhỏ trong HT rằng : "Người chăn là chính Chúa và chiên là em đây, Chúa mến thương bầy chiên Chúa vô cùng". Tôi chỉ có một người chăn là Chúa thôi, tôi là chiên của Chúa chứ tôi không phải là chiên của một người chăn nào khác để họ dắt tôi đi đâu thì dắt đâu. Người chăn có quyền tuyệt đối trên bầy chiên của mình, có quyền sinh sát đàn chiên của mình, còn người thầy không có quyền tuyệt đối trên học trò đâu, chỉ có quyền nhận xét, hướng dẫn trò thôi và trò nghe theo hay không nghe theo là quyền của trò... Có bao giờ bạn nghĩ về khía cạnh này không?

Tôi nghĩ như thế này không biết đúng không? Chỉ những người quan trọng hóa về chức vụ của mình nên mới nêu vấn đề lên để người ta bàn cãi...Nếu không thì cần gì phải quan tâm mình là người chăn hay mục sư, chỉ cần nhớ rằng mình là tôi tớ Chúa, là đủ rồi

Thân ái

sư = người tu hành

Theo em nghĩ khi ông Phan Khôi dịch Kinh Thánh ông ta không có ý rằng sư là thầy.  Ông ta cũng chỉ biết Pastor là người chăn.  Vả lại, những người dấn thân vào đạo thường được gọi là nhà tu hành hay sư.  Có thể lắm, sư có nghĩa là người tu hành.  Không có nghĩa là thầy đâu.

Thân ái

Phan Khôi dịch Thánh Kinh

Ông Phan Khôi dựa trên bản dịch tiếng Pháp và tiếng Tầu để dịch cho nên ông theo gương của Tầu mà dịch pastor = mục sư. Ông giỏi tiếng Hán và hiểu rất rõ chữ "sư" trong mục sư là chữ sư trong hệ thống "quân, sư, phụ" của Nho Giáo. Chúng ta đừng có tốn thời gian mò mẫm tìm cách để bảo vệ danh xưng mục sư nữa. Hãy vâng phục Chúa như trẻ thơ; Không lý luận! Ngày xưa, Áp-ra-ham không hề lý luận khi Chúa bảo ông đem con của mình dâng làm của lễ thiêu cho Đức Chúa Trời. Ông chỉ im lặng vâng phục!

Đừng lý luận để tìm cách làm nghịch lại lời Chúa. Hãy vâng phục! Đừng chịu cho người khác gọi mình bằng thầy, cho dù chữ thầy đó có nghĩa gì!

Ngoài ra, Tin Lành KHÔNG CÓ TU SĨ!

Mỗi con dân Chúa là một thầy tế lễ nhưng không có ai là tu sĩ. Tu sĩ là người tự mình sửa đổi mình (tu thân), tu là sửa chửa nhưng người Tin Lành là người được Đức Chúa Trời dựng nên mới chứ không phải là người tự mình sửa đổi như người theo các tôn giáo thế tục - cho nên Tin Lành không có tu sĩ!

Chúng ta bàn luận mà không dựa vào các lẽ thật của Thánh Kinh thì rất nguy hiểm.

Tim Huỳnh.

"Tìm cách lý luận để

"Tìm cách lý luận để làm nghịch lại lời Chúa" . Sao mà chua cay rứa, em là người đang tìm hiểu về lời Chúa, có thể anh TimHuynh cũng nhận biết được điều đó, những câu hỏi, những thắc mắc chđể hiểu rõ thêm về lời Chúa.  Em cũng không có trích dẫn được 1 câu Kinh Thánh mô cả.  Buồn chi mà buồn lạ rứa khi nghe nói như vậy.

Mặc dầu vẫn còn nhiều thắc mắc về chữ "sư" nhưng mà thôi, chấm dứt là vừa.

Cám ơn.

Không phải là chua cay

Chào bạn Chi Lạ Rứa,

Khi tôi nói:

Đừng lý luận để tìm cách làm nghịch lại lời Chúa. Hãy vâng phục! Đừng chịu cho người khác gọi mình bằng thầy, cho dù chữ thầy đó có nghĩa gì!

Là tôi đang nói với những người "trong cuộc," những người đang ưng để cho người khác gi mình bằng thầy! Không phải tôi đang chua cay với bạn. Đây là diễn đàn để thảo luận chung, cho nên những lời phát biểu có khi để hồi đáp bạn, có khi để trình bày với độc giả khác...

Vậy, đừng có buồn nữa. Chúng ta cũng cần chấm dứt thảo luận về chữ "sư" đây. Cứ mềm mại tiếp nhận lời Chúa và làm theo (Gia-cơ 1:21, 22). Tin cậy và vâng phục là thái độ phải có của chúng ta đối với Chúa và lời của Ngài đã được ghi chép rõ ràng trong Thánh Kinh.

Tim Huỳnh.

Kinh Thánh có thật sự cấm gọi người khác là “thầy” hay không?

Matthew 23:1-12 -->

1 Bấy giờ Đức Chúa Jêsus phán cùng dân chúng và môn đồ Ngài rằng:

2 Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đều ngồi trên ngôi của Môi-se.

3 Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm.

4 Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào.

5 Họ làm việc gì cũng cố để cho người ta thấy, mang cái thẻ bài da cho rộng, xủ cái tua áo cho dài;

6 ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội;

7 muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy!

8 Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em.

9 Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời.

10 Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.

11 Song ai lớn hơn hết trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi.

12 Kẻ nào tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên.

Chữ “thầy” trong câu 7 và 8 ở đây là “rabbi” có nghĩa là “chủ,” hoặc “chúa” (“master”).

Nếu dựa vào đoạn Kinh Thánh này để cho rằng việc chấp nhận từ “mục sư” là bất tuân Lời Chúa thì có lẽ chúng ta đã hiểu sai ý Chúa rồi.

Vì nếu chữ “thầy” được hiểu theo nghĩa đen (literally), thì những chữ khác như “cha” (c. 9) và “chủ” (c. 10) cũng phải được hiểu theo nghĩa đen. Nghĩa là không được để cho con cái gọi mình là “cha,” “ba” hay “bố” và công nhân dưới quyền không được gọi mình là “chủ.” Nếu hiểu và áp dụng theo nghĩa đen như vậy thì đi ngược lại nhiều câu Kinh Thánh khác như:

Êphêsô 6:1-9

1 Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm.

2 Hãy tôn kính cha mẹ ngươi (ấy là điều răn thứ nhất, có một lời hứa nối theo),

3 hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất.

4 Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, hãy dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa mà nuôi nấng chúng nó.

5 Hỡi kẻ làm tôi tớ, hãy run sợ, lấy lòng thật thà mà vâng phục kẻ làm chủ mình theo phần xác, như vâng phục Đấng Christ,

6 không phải vâng phục trước mặt người mà thôi, như các ngươi kiếm cách làm đẹp lòng người ta, nhưng phải như tôi tớ của Đấng Christ, lấy lòng tốt làm theo ý muốn Đức Chúa Trời.

7 Hãy đem lòng yêu mến hầu việc chủ, cũng như hầu việc Chúa, chẳng phải như hầu việc người ta,

8 vì biết rằng bất luận tôi mọi hay tự chủ, mỗi người đều sẽ nhận lãnh của Chúa tùy việc lành mình đã làm.

9 Hỡi anh em là người làm chủ, hãy đối đãi kẻ tôi tớ mình đồng một thể ấy, đừng có ngăm dọa chúng nó, vì biết rằng mình với chúng nó đều có một chủ chung ở trên trời, và trước mặt Ngài chẳng có sự tây vị ai hết.

 

Côlôse 3:20-22

20 Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa.

21 Hỡi kẻ làm cha, chớ hề chọc giận con cái mình, e chúng nó ngã lòng chăng.

22 Hỡi kẻ làm tôi tớ, trong mọi sự phải vâng phục kẻ làm chủ mình về phần xác, không những hầu việc trước mắt họ, như mình tìm cách cho đẹp lòng người ta, nhưng vì kính sợ Chúa, hãy lấy lòng thật thà mà hầu việc…

1 Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em

 

Êphêsô 6:5,9 và Côlôse 4:1 vẫn dùng những từ này để nói về những mối liên hệ giữa người với người. Do đó, trong đoạn Kinh Thánh Mathiơ 23:1-12, chắc chắn Chúa Giê-xu muốn nói đến việc xem một người khác là “thầy” với ý nghĩa là “Chúa,” chứ không phải trong quan hệ bình thường giữa người với người, như thầy-trò, cha-con, và chủ-thợ.

Tương tự như vậy, khi bảo không được gọi người khác là “Cha” (c. 9), Chúa Giê-xu không nói về mối liên hệ bình thường giữa cha-con, vì chính sứ đồ Phao-lô cũng thường dùng từ này để nói về liên hệ cha-con giữa người với người (Rôma 4:11-12,16; 1 Cor. 5:1; Eph. 5:31; 6:2; 1 Th. 2:11; 1 Tim. 1:9; 5:1; Hêb. 7:3,10; 12:7; Gia-cơ 1;27; 2:21). Phao-lô còn tự gọi mình là “cha” về phương diện thuộc linh của những tín hữu tại Côrinhtô (1 Cor. 4:15). Đồng thời, Phao-lô cũng nói rõ rằng đầu của mỗi người chính là Chúa Giê-xu (1 Cor. 11:3). Do đó, Phao-lô không sợ mình vi phạm Lời Chúa dạy trong Mathiơ 23:9 khi dùng chữ “cha,” vì ông không nói về quyền chủ tể của “Cha” nhưng ông nói về vai trò của mình trong việc hướng dẫn những người đó tin Chúa.

Trong cả hai trường hợp này, điểm Chúa Giê-xu muốn nhấn mạnh là đừng tự tôn cao mình lên để được người khác tôn trọng qua chức vụ. Như Châm Ngôn 27:2 nói rõ, “Hãy để cho kẻ khác khen ngợi con, miệng con chẳng nên làm; Để cho một người ngoài tán mỹ con, môi con đừng làm.”

Tìm cách áp dụng Mathiơ 23:7-10 một cách cứng ngắc theo nghĩa đen sẽ khiến chúng ta làm điều Chúa Giê-xu lên án ngay sau đó, trong Mathiơ 23:24, “Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà!”

Do đó, tôi thấy rằng để người khác gọi mình là “mục sư” không có gì là phạm thượng hay chống nghịch Lời Chúa.

Người Bạn.

Đúng rồi!

Đúng rồi! Trong Thánh Kinh không có cấm chúng ta gọi người khác trong quan hệ tình cảm, chức nghiệp bằng: chủ, cha, thầy. Chữ cha, chủ, thầy mà Chúa bảo chúng ta đừng để cho người khác gọi là chữ cha, chủ, thầy trong lĩnh vực thuộc linh. Chữ "sư" trong Hán Tự khi dùng với ý nghĩa "tôn sư trọng đạo," nghĩa là khi dùng cho môi trường tôn giáo cho dù là tôn giáo dạy làm người như Nho Giáo, là chữ dùng để chỉ về bậc thầy trong lĩnh vực thuộc linh, chỉ có chữ "giáo viên" trong Hán Tự chỉ về bậc thầy trong quan hệ nghề nghiệp, xã hội.

Chúng ta có thể chấp nhận người ta gọi mình là kỷ sư vì đó là lãnh vực thuộc thể nhưng không chấp nhận người ta gọi mình là mục sư vì đó là lĩnh vực thuộc linh, bị Chúa cấm. Tôi tin rằng trong Hội Thánh ngoài Mục Sư duy nhất là Đấng Christ (Chieft Pastor/Head Shepherd - archipoimēn - I Phi-e-rơ 5:4), còn lại, chỉ là những người chăn bình thường được Chúa giao do chăm sóc những con chiên của Ngài. Trong nguyên tác của chữ pastor/shepher (poimēn) không có chữ "sư" trong đó. Khoan nói đến ý nghĩa của chữ "sư." Từ chữ người chăn mà dịch thành thầy chăn là đã sai rồi. Nếu chúng ta dịch cho đúng thì sẽ không có cái gọi là "chức mục sư" áp dụng cho loài người trong Hội Thánh.  Chỉ riêng Hội Thánh người Tầu và người Việt mới có cái sự tiếm danh Mục Sư của Đấng Christ như vậy mà thôi.

Giáo Hội Công Giáo có danh xưng "Đức Thánh Cha" để gọi giáo hoàng và dùng tiếng "cha" để gọi các linh mục cũng là hành động trái nghịch lời Chúa, tiếm danh của Đức Chúa Trời. Giáo Hội Tin Lành thì gọi nhau là "reverend" này nọ cũng là một sự tiếm danh của Đức Chúa Trời. Riêng Giáo Hội Tin Lành người Tầu và người Việt còn tiếm luôn cái danh Mục Sư của Đấng Christ.

1Pe 5:4 And2532 when the3588 Chief Shepherd750 shall appear,5319 ye shall receive2865 a crown4735 of glory1391 that fadeth not away.262

Thôi thì, chúng ta hãy dịch lại lời Chúa cho đúng với nguyên tác đi. Khi dịch lại cho đúng,  sẽ không còn chữ "mục sư" trong Ê-phê-sô 4:11 thì tự nhiên stiếm danh của Đấng Christ sẽ không còn nữa:

"Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm người giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm người chăn giáo viên."

Eph 4:11 And2532 he846 gave1325 some,3588, 3303 apostles;652 and1161 some,3588 prophets;4396 and1161 some,3588 evangelists;2099 and1161 some,3588 pastors4166 and2532 teachers;1320

Nếu chúng ta ngoan cố, nhất định phải dịch "pastor" tức "poimēn" trong nguyên tác Hy-lạp thành "mục sư" thì làm ơn thống nhất biến những chữ "pastor/shepherd" tức "poimēn" trong những câu dưới đây thành "mục sư" hết trong bản dịch tiếng Việt.

Ma-thi-ơ 9:36; 25:32; 26:31; Mác 6:34; 14:27; Lu-ca 2:8, 15, 18, 20; Giăng 10:2, 11, 12, 14, 16; Hê-bơ-rơ 13:20; I Phi-e-rơ 2:25. 

Sửa th một câu cho các bạn thưởng thức:

Lu-ca 2:8 "Vả, cũng trong miền đó, có mấy mục sư trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên."

Luk 2:8 And2532 there were2258 in1722 the3588 same846 country5561 shepherds4166 abiding in 63 the field,(2532) keeping5442 watch5438 over1909 their848 flock4167 by night.3571

Tim Huỳnh.

Trong từ điển

Trong hai cuốn tđiển Strong's và Thayer's được dùng rộng rãi trong công tác giải kinh, danh từ "poimēn" không hề có ý nghĩa "sư" hay "thầy" gì cả. Vậy sao chúng ta ngoan cố muốn giữ lại lỗi lầm phiên dịch trong cuốn Thánh Kinh Việt ngữ?

Chúa gọi mình làm "người chăn" sao lại ưng cho người ta gọi mình bằng "thầy chăn?"

Tim Huỳnh.

Sư...

Hì hì... nếu Giải thích như tim huỳnh: Mục Sư: Mục: chăn; Sư= thầy:

Mục sư: thầy chăn tôi sẽ giải thích các chữ khác như thế này

Sư phụ: cha thầy

Sư huynh: anh thầy

Sư đệ: em thầy

Sư tỷ: chị thầy

Sư môn: cửa thầy

...Còn Sư cha: thì sao nhỉ??...

Chẳng đúng một chút nào....

Còn từ người chăn:Tôi không có học thức cao siêu như các vị nên tôi giải thích như thế này:  người chăn là con người chăn mấy con chiên là con vật...Người chăn có toàn quyền sinh sát trên con chiên... Nếu so sánh giữa con người và Chúa thì người chăn và chiên là hoàn toàn đúng... Còn so sánh giữa con người với con người thì không đúng...Mục sư là con người, tín đồ cũng là con người...Mục sư cũng là chiên của Chúa, tín đồ cũng là chiên của Chúa...Tự nhiên xưng mình là người chăn nghĩa là cho mình là bậc khác, và có toàn quyền sinh sát trên con cái Chúa hở... Tui hổng chịu đâu...

Tại sao các bạn không nghĩ đơn giản như thế này: tín đồ, mục sư tất cả đều là chiên của Chúa, mục sư là chiên đầu đàn, còn tín đồ là chiên bình thường...vậy thôi...

Chữ và nghĩa...

Chào bạn rungcat,

Tôi mong là bạn chỉ diễu chơi cho vui. Tuy nhiên, tôi cũng xin nhín chút thì giờ trả lời bạn cách nghiêm chỉnh, phòng khi bạn hỏi thật và muốn có câu trả lời.

Ý nghĩa của từ ngữ phải dựa vào ngữ cảnh và cú pháp. Thứ tự của các từ ngữ khi xuất hiện trong một câu, từ loại (danh từ, động từ, tĩnh từ,v.v...) xác định ý nghĩa của từ ngữ trong một câu. Dưới đây là ý nghĩa của những chữ bạn nêu lên:

Sư phụ = Thầy và cha: Tiếng tôn xưng người dạy cho mình một kỷ năng.

Sư đệ = (1) Thầy và trò: Tình sư đệ = tình thầy trò. (2) Bạn học nam cùng một thầy nhưng nhỏ tuổi hơn mình (3) Học trò nam của cha mình và nhỏ tuổi hơn mình (4) Con trai của thầy mình và nhỏ tuổi hơn mình.

Sư huynh = (1) Bạn học nam cùng một thầy nhưng lớn tuổi hơn mình, hoặc được thầy cho làm trưởng lớp (2) Học trò nam của cha mình và lớn tuổi hơn mình (3) Con trai của thầy mình và lớn tuổi hơn mình.

Sư tỷ = (1) Bạn học nữ cùng một thầy nhưng lớn tuổi hơn mình, hoặc được thầy cho làm trưởng lớp (2) Học trò nữ của cha mình và lớn tuổi hơn mình (3) Con gái của thầy mình và lớn tuổi hơn mình.

Sư môn = Cửa nhà của thầy. Nghĩa bóng là chỗ thầy dạy học.

...Còn Sư cha = Tiếng lóng, dùng để chửi hoặc chế diễu - nói trại ra từ chữ "sư phụ." 

Chúa bảo Phi-e-rơ: Hãy  chăn chiên ta. Phi-e-rơ là người. Phi-e-rơ chăn chiên của Chúa. Vậy, Phi-e-rơ là "người chăn." Đức Chúa Jesus là Đấng đứng đầu những người chăn, tức "Thầy Chăn" chứ Ngài không phải là "người chăn duy nhất." Thánh Kinh xác nhận danh xưng người chăn và cho biết tín đồ là bầy mà Đức Thánh Linh đã lập các trưởng lão làm người chăn. Bạn có chấp nhận danh xưng người chăn hay không thì tùy bạn. Còn biết bao nhiêu điều Thánh Kinh phán dạy mà nhiều người tự xưng là tín đồ, môn đồ vẫn thản nhiên không vâng theo, chứ có riêng gì danh xưng "người chăn." Chẳng có gì lạ cả.

Tim Huỳnh.

Chữ nghĩa và ý nghĩa KT

Hi Tim,

Khi Chúa dạy trong Kinh Thánh là đừng gọi ai là thầy hay cha vì chúng ta đã có một thầy và một cha trên trời rồi. Tôi nghĩ rằng đây Chúa muốn nói đừng tôn họ như kiểu một thần tượng tối cao để qua đó mà noi theo việc làm đạo đức của họ hay là 1 Kim Chỉ Nam cho đời sống mình vậy, và đứng xem đó là một quyền lực cao cả nào đó mà phải tuân theo họ. Tôi không nghĩ Chúa có mục đích trước tiên duy nhất là dùng danh từ này.

Cứ cho rằng chúng ta đổi MS thành Người chăn chẳng hạn nhưng kiểu vẫn xây dựng HT dưới Giáo Hội hiện nay thì tầng lớp giáo phẩm vẫn còn cai trị đức tin, vậy thì danh từ Người Chăn cũng vậy mà thôi vì họ vẫn còn là Cha và Thầy theo cơ chế giáo hội mặc định cho họ vậy.

Theo tôi đổi cũng tốt nhưng tốt nhất là xây dựng HT phổ thông không có quyền lực nào bên trên mà chỉ có Chúa Giê-su và người chăn là do Đức Thánh Linh chọn thì khi đó người chăn hay mục sư mới trở về đúng vị trí giống Kinh Thánh được.

Dzung

Em thì suy nghĩ đơn

Em thì suy nghĩ đơn giản lắm.

Từ mô, câu mô không hiểu thì hỏi, giải đáp sao thì em hiểu vậy thôi.  Kinh Thánh thì nhiều câu nhiều chđọc xong là thấy lùng bùng liền.  Thí dụ như trong Rô-ma 12:20 "Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy than lửa đỏ mà chất lên đầu người."

Hỏi ra thì được giải thích là phong tục người Do Thái thời đó đội cái bình gốm trên đầu đi xin lửa khi chẳng may lửa nhà mình bị tắt đi (chưa có hộp diêm).  Và em chấp nhận liền như vậy.  Chứ ai lại yêu thương kẻ thù mà lại chất lửa lên đầu, phỏng đầu chết luôn.

Từ mục sư em cũng hỏi và được giải thích là người phục vụ, là người chăn và em cũng hiểu là mục sư là người phục vụ cho Chúa và chăn chiên của Chúa.  Chđâu có ngờ rằng lại rắc rối và phiền phức chữ nghĩa đến như vầy.

Thay đổi chữ nghĩa trong Kinh Thánh chắc phải thay đổi nhiều lắm. 

Ngay cả "sáng láng" tra tđiển Hán Việt cũng không thấy mô hết.

 

Sư...

Hì hì...chăn chiên không chỉ có người chăn thôi...Tôi nhớ có đọc về những con chó chăn cừu mà....nó khôn lắm đó... Chủ của nó mới là người chăn....

Nói như Tim Huỳnh: Phi e rơ la con người nên goi là người chăn, vậy các con cái Chúa, các tín đồ không phải la con người sao??

Ý! còn tiếng Sư này nữa nè

Sư tử: con thầy: (tử là con); chết thầy (tử là chết); người thầy (nếu tử là người, theo như cách gọi mục tử là người chăn)

Con sư tử mà trở thành người thầy thì ....thua.... hì hì...

Nói vậy thôi, tôi không có ý xúc phạm các vị tôi tớ Chúa đâu...Tôi chỉ muốn nói đừng quan trọng quá về ngôn từ....Gọi Mục sư hay người chăn cũng vậy thôi, chẳng có gì là quan trọng... Còn theo tôi, bản dịch Kinh Thánh truyền thống lâu nay là tuyệt rồi, đừng mất công dịch lại làm gì, tôi đọc mấy cái bản dịch mới thấy chẳng bản nào đáng gọi là "kinh" cả... Tôi tin rằng với bản dịch truyền thống, Chúa Thánh Linh hà hơi ban thần quyền trên bản đó rồi...còn các bản dịch sau này, các vị dịch trong tinh thần kiêu ngạo nên Chúa không xức dầu, vì vậy đọc thấy khô khan lắm...Nếu có chỗ nào dịch sai hẵn, thì chỉ cần sửa lại chỗ đó thôi... Nghĩa là chỉ cần hiệu chỉnh một vài chỗ, đừng dịch lại làm gì, mất công....

Những người mới tin Chúa họ cũng có nhận xét như tôi: họ thấy rằng khi đọc bản KT truyền thống, lòng mình mềm ra, còn đọc các bản sau này thấy như chỉ là phô trương kiến thức... Đấng làm cho Kinh Thánh sống chính là Đức Chúa Thánh Linh chứ không phải câu văn câu chữ... Văn tự làm cho chết, nhưng Thánh Linh làm cho sống....

Mucsư hay là người chăn

Thưa quý tôi tớ Chúa

Một sự thay đổi được Chúa soi đường cho chúng ta là điều tốt ,và điều gì tốt thì nên làm .Có điều tôi thấy từ mục sư nó gắn bó thân thương với những tín đồ như chúng tôi ,nay thay lại nghe không quen .Nhưng nếu Chúa muốn thì tốt thôi .Còn nói mục sư là trịnh thương không đúng Lời Chúa thì có lẽ phải xét lại .Có những những đầy tớ Chúa thich gọi là thầy ,nhưngcũng có ông thích là mục sư ,nếu kêu là thầy thì khó chịu.Cái đó thuộc về bản chất con người ,dù kêu bằng gì họ cũng vậy.Hãy để Chúa đóan xét họ.Các vị xưng mình là đầy tớ Chúa ,xin hãy đít thời gian ngắn ngủi trên đất này vào việc cứu những linh hồn còn đang ngày đêm than khóc trong sầu khđừng mất công trong việc tranh luận là gọi nhau bằng gì?nó giống như các vị môn đồ Chúa hỏi "ai lón hơn"Riêng phần tôi kẻ hèn này nhơn Chúa thương xót mà thóat tội chết, được làm con cái Chúa thì "tôi nay như đã chết"gọi bằng gì thì có gì là quan trong .Người ta goi Chúa là gì có bao giờ Ngài cải chính đâu?trừ khi quỉ xưng Danh Ngài là Con Đức Chúa Trời ,Ngài còn không chịu.Trong sách LuKa 14:11 chép"Bởi vì ai tự tôn mình lện sẽ bị hạ xuống ..."Vậy ai thích mình là gì chẳng sao .Chúa sẽ sửa lại họ.

Xin hãy tha thứ cho kẻ hèn này .

Xin chào quý đầy tớ Chúa Nguyện Chúa ban phớc và soi đường cho quý vị.

Chó chăn

Chào bạn rungcat,

Đúng là có chó chăn. Nhưng Phi-e-rơ,  và tất cả những ai được Đức Thánh Linh lập nên để chăn bầy chiên của Đức Chúa Trời thì đều là người chăn. Chỉ những người chăn không làm tròn thiên chức mới bị Đức Chúa Trời gọi là: chó ham ăn, mê ngủ, không biết sủa... là những kẻ chăn chiên chẳng thông sáng... theo đường riêng, tìm tư lợi... (Ê-sai 56:10, 11)

Tim Huỳnh.

Các bản dịch mới

Bàn về các bản dịch Thánh Kinh nơi đây thì dường như ra ngoài đề tài đang thảo luận nhưng có lẽ cũng liên quan phần nào vì chính sự dịch sai danh từ pastor mà diễn đàn này mới được mở ra. Theo thiển ý, bất kỳ bản dịch nào:

- Xóa bỏ danh CHRIST - Dịch "đàn bà" thành "thưa mẹ"

là những bản dịch không có sự soi sáng của Đức Thánh Linh. Con dân của Đức Chúa Trời nên tránh xa và đừng tiếp tay phổ biến.

Tim Huỳnh.

danh xung muc su

timote Huỳnh (danh xưng mục sư)

Câu hỏi đề nghị của anh có vẻ hay hay dó nha, nhưng toi lại dang hiểu lầm tim huỳnh dang có ý định phat sinh một trào lưu nào mới chăng.................................?

Với danh xưng Mục Sư, theo tôi thì thay đổi cũng được mà không cũng được

-Không cũng được : Vì từ khi Martine lutero bị khai trừ (dứt phép thông công) ra khỏi Giáo hội Công Giáo, những người đi theo Ông ta từ thời đó cho đến nay tự chọn danh xưng Mục sư cho vị trí của mình, nó đã trở thành thói quen rất thông dụng, mà ngày hôm nay bất kể ai nghe đến danh xưng Mục sư là hiểu ngay đó là Mục sư tin lành,  vậy thì thay đổi làm chi cho thêm ồn ào, thêm phức tạp........

Cũng được: Nên thay là "tông đồ giáo dân" hay "Huynh trưởng" hay "Thày dạy đức tin" hoặc là "người hướng dẫn" v.v............... Vì cớ, Mục sư cũng giông như bao giáo dân khác, nghĩa là Mục sư không có Chức Thánh, chỉ khác giáo dân binh thường là có học môn thần học đặc thù duy nhất

Tôi so sánh : bên giáo hội Công Giáo có nhiều những thành phần, rất nhiều người có đẳng cấp thần học uyên thâm, nhưng họ không đủ điều kiện để có Thánh chức như lệnh truyền do ai, bởi ai, và ai là người được được nối tiếp thực hiện lệnh truyền thánh chức, chức thánh như Cựu ước dạy như trong sự kiện thầy trò Elia, sự kiện vua Davit và Salômon, Sự kiện bữa tiẹc ly cuối cùng trong Tân ước v.v...  úi chà chà, nếu moi ra thì nhiều vấn đđể bàn cãi lung tung lắm.

thôi nhe! Nguyện bình an của Chúa ở cùng chúng ta

 

 

Chức Thánh

Chào bạn peterlinh,

Bạn nói sai lịch sử rồi. Ông Luther bước ra khỏi Công Giáo vì Công Giáo giảng dạy sai Thánh Kinh. Ông bước ra khỏi CG sau khi đề nghị cải cách của ông bị bác bỏ. (Đối với những người Việt bỏ nước ra đi sau 1975 vì không chấp nhận chế độ CS là họ tự ý bỏ nước ra đi chứ không phải tổ quốc xua đuổi họ hay nhà cầm quyền CS "dứt phép thông công" họ.)

Bạn nói sai về danh xưng mục sư. Ông Luther và những người Tin Lành không thuộc Trung Quốc và Việt Nam không hề dùng danh xưng mục sư. Họ dùng danh xưng "pastor" dịch đúng sang tiếng Việt là "người chăn."

Nói cho bạn biết thêm: Trong Anh ngữ, Công Giáo cũng dùng danh xưng "pastor" khi nói đến quyền quản nhiệm của linh mục chính xứ.

Chức Thánh làm thầy tế lễ (priest) là chức thánh Đức Chúa Jesus ban cho tất cả những ai tin nhận Ngài chứ không phải riêng cho một thành phần nào trong Hội Thánh. Giáo Hội CG cướp lấy chức thánh này của con dân Chúa để dành riêng cho một nhóm tăng lữ của họ và còn bắt tín đồ gọi họ bằng "cha." Hoàn toàn phi Thánh Kinh.

"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men." (Khải Huyền 1:6) Chức Thánh chăn dắt bầy chiên của Chúa do Đức Thánh Linh lập nên trong Hội Thánh, không do một con người nào, một tổ chức nào:

"Anh em hãy giữ lấy mình, mà luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình." (Công Vụ Các Sứ Đồ 20:28)

Mời bạn trở về với Lời Chúa.

Chức thánh

Nhiều khi coi vậy mà không phải vậy, các Tin Lành cũng có rất nhiều người tuy lên án CGLM về priest nhưng họ cũng tự xưng mình là mục sư, kẻ chăn qua các trường thần học rồi được phong chức đấy thôi. Và họ cho rằng đây là do Đức Thánh Linh chọn. Những tăng lữ này có khác gì "cha" trong CG đâu, chỉ có khác là có vợ mà thôi.

Hết biết. Dzung

chào Tim Huynh Bạn so

chào Tim Huynh

Bạn so sánh sự kiện 1975 với sự kiện ông Lutero như vậy coi bộ không ổn rồi.

- Những người bỏ quê hương ra đi từ năm 1975 và sau đó nữa là do họ hoàn toàn tự nguyện.(nói gì gì đi nữa thì họ là người tự nguyện vượt biên)

- Còn ông Lutero thì khác chứ. ông bđuổi (bị dứt phép thông công) ra khỏi giáo hội công giáo.

     Chẳng lẽ, cở timhuỳnh mà không biết điều này, khuyen bạn đừng cố giải thích theo kiểu lấp liếm để báo vệ thầy mình.

- Bạn nên nhớ: đạo Công giáo do chính Chúa Giêsu thiết lập. còn các đạo khầc sau này mà cũng thờ phượng chúa Giêsu là do con người thành lập (cũng tốt)

thôi không tranh biện chđề này nữa Tim huỳnh nhé

Bạn nói sao?

                Xin hãy đọc kỹ lịch sử 1 chút, nên nhớ Martin Luther ko cần đuổi cũng đi bởi ông đã quá chán ghét Công Gíao, nhưng ko có nghĩa là Tin Lành ra từ bàn tay con người bởi Tin Lành đã ra từ thời Chúa Jesus, thời phượng và làm theo lời Thánh Kinh dạy và 1 mực ko có thời hình tượng và Mari như Công Gíao, vậy nên ko thể nói Công Gíao do chính Chúa Jesus thiết lập, chẳng lẽ Chúa Jesus thiết lập Công Gíao rồi dạy Giáo Dân thờ tượng chạm và Mari rồi lại đọc kinh Mân Côi, Kinh Lạy Cha sao?

Thôi! Thôi! đừng nói nữa mà chi

Bạn llong vá các bạn !

Chúng ta ngưng chđông Lutero tại đây các bạn nhé

Hội Thánh - Tin Lành - Công Giáo

Hội Thánh do Đức Chúa Jesus thành lập. Hội Thánh là Hội của những người tin nhận Tin Lành của Đức Chúa Trời:

10 Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân;
11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. (Lu-ca 2)

Kể từ đó, Tin Lành của Đức Chúa Trời được rao giảng cho đến ngày hôm nay. Công Giáo do Hoàng Đế La-mã Constantine lập ra vào thế kỷ thứ 4. Lutheran Giáo do Luther lập ra vào thế kỷ 16 và sau đó là hàng loạt các giáo hội, giáo phái mang tên Tin Lành do loài người lập ra. Từ Công Giáo cho đến Lutheran cho đến tất cả các giáo hội, giáo phái Tin Lành phát sinh sau thời Luther đều cần phải ăn năn tội, quay về với Tin lành đích thật của Đức Chúa Trời, như đã chép trong Thánh Kinh và có như vậy mới quay về với Hội Thánh thật do Đức Chúa Jesus lập nên.

Bạn tìm khắp trong Thánh Kinh không chỗ nào nói Đức Chúa Jesus lập nên Giáo Hội Công Giáo, nhất là Giáo Hội Công Giáo La-mã. Thánh Kinh dạy, các giám mục trong Hội Thánh của Chúa phải là chồng của một vợ. Giáo Hội Công Giáo dạy: các giám mục phải sống độc thân, các giáo dân phải ăn chay...  Phao-lô đã tiên tri về lệnh cấm này:

I Ti-mô-thê 4:3

họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy.

Thánh Kinh dạy: Không nên thánh thì không thấy được Đức Chúa Trời. Phải kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Hãy đi, đừng phạm tội nữa. Các giáo hội Tin Lành dạy: Chỉ cần cầu nguyện tin Chúa là được cứu! Vì Công Giáo và các giáo hội Tin Lành đều do loài người lập ra, rao giảng ý riêng của loài người, nghĩa là rao giảng một Tin Lành khác với Tin Lành của Thánh Kinh cho nên Công Giáo và các giáo hội Tin Lành đều không phải là Hội Thánh của Chúa. Tôi không thuộc về một giáo hội hay giáo phái Tin Lành nào. Tôi thuộc về Hội Thánh của Đức Chúa Trời do Đức Chúa Jesus Christ lập nên, là Hội của những người tin nhận và làm theo Đấng Christ.

  1. Ma-thi-ơ 4:23
    Đức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng Tin Lành của nước Đức Chúa Trời và chữa lành mọi thứ tật bịnh trong dân.
  2. Ma-thi-ơ 9:35
    Đức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành nước Đức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật bịnh.
  3. Ma-thi-ơ 11:5
    kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng tin lành.
  4. Ma-thi-ơ 24:14
    Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.
  5. Ma-thi-ơ 26:13
    Quả thật, ta nói cùng các ngươi, khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người.
  6. Mác 1:1
    Đầu Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời.
  7. Mác 1:15
    mà rằng: Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin Lành.
  8. Mác 8:35
    Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo Tin Lành mà mất sự sống thì sẽ cứu.
  9. Mác 10:29
    Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi chẳng một người nào vì ta và Tin Lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng,
  10. Mác 13:10
    Nhưng trước hết Tin Lành phải được giảng ra cho khắp muôn dân đã.
  11. Mác 14:9
    Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người.
  12. Mác 16:15
    Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người.
  13. Lu-ca 2:10
    Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân;
  14. Lu-ca 3:18
    Trong khi Giăng rao truyền Tin Lành, thì cũng khuyên bảo dân chúng nhiều điều nữa.
  15. Lu-ca 4:18
    Thần của Chúa ngự trên ta: Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền Tin Lành cho kẻ nghèo;
  16. Lu-ca 4:43
    Nhưng Ngài phán cùng họ rằng: Ta cũng phải rao Tin Lành của nước Đức Chúa Trời nơi các thành khác; vì cốt tại việc đó mà ta được sai đến.
  17. Lu-ca 7:22
    Đoạn, Ngài đáp rằng: hãy về báo cho Giăng sự các ngươi đã thấy và đã nghe: kẻ đui được sáng, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, Tin Lành đã rao giảng cho kẻ nghèo.
  18. Lu-ca 8:1
    Kế đó, Đức Chúa Jêsus đi thành nầy đến thành khác, giảng dạy và rao truyền tin lành của nước Đức Chúa Trời. Có mười hai sứ đồ ở với Ngài.
  19. Lu-ca 9:6
    Vậy, các sứ đồ ra đi, từ làng nầy tới làng kia, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành người có bịnh.
  20. Lu-ca 16:16
    Luật pháp và các lời tiên tri có đến đời Giăng mà thôi; từ đó tin lành của nước Đức Chúa Trời được truyền ra, và ai nấy dùng sức mạnh mà vào đó.
  21. Lu-ca 20:1
    Một ngày trong những ngày đó, Đức Chúa Jêsus đương dạy dỗ dân chúng trong đền thờ và rao truyền Tin Lành, thì các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão đến thình lình,
  22. Công vụ các sứ đồ 5:42
    Ngày nào cũng vậy, tại trong đền thờ hoặc từng nhà, sứ đồ cứ dạy dỗ rao truyền mãi về Tin Lành của Đức Chúa Jêsus, tức là Đấng Christ.
  23. Công vụ các sứ đồ 8:4
    Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành.
  24. Công vụ các sứ đồ 8:12
    Nhưng khi chúng đã tin Phi-líp, là người rao giảng Tin Lành của nước Đức Chúa Trời và danh Đức Chúa Jêsus Christ cho mình, thì cả đờn ông, đờn bà đều chịu phép báp-tem.
  25. Công vụ các sứ đồ 8:25
    Sau khi Phi-e-rơ và Giăng đã làm chứng và Giăng đạo Chúa như thế, thì trở về thành Giê-ru-sa-lem vừa đi vừa giảng Tin Lành trong nhiều làng của người Sa-ma-ri.
  26. Công vụ các sứ đồ 8:40
    Còn Phi-líp thì người ta thấy ở trong thành A-xốt; từ đó người đi đến thành Sê-sa-rê, cũng giảng Tin Lành khắp những thành nào mình đã ghé qua.
  27. Công vụ các sứ đồ 10:36
    Ấy là lời Ngài đã phán cùng con cái Y-sơ-a-ên, khi rao giảng tin lành về sự bình an bởi Đức Chúa Jêsus-Christ, tức là Chúa của loài người.
  28. Công vụ các sứ đồ 11:20
    Nhưng trong đám những người ấy có một vài người quê ở Chíp-rơ và Sy-ren đến thành An-ti-ốt, cũng giảng dạy cho người Gờ-réc nữa, truyền Tin Lành của Đức Chúa Jêsus cho họ.
  29. Công vụ các sứ đồ 13:32
    Còn chúng tôi, thì rao truyền cho các anh em tin lành nầy và lời hứa ban cho tổ phụ chúng ta,
  30. Công vụ các sứ đồ 14:7
    mà giảng Tin Lành.
  31. Công vụ các sứ đồ 14:15
    Hỡi các bạn, sao làm điều đó? Chúng ta chỉ là loài người giống như các ngươi; chúng ta giảng Tin Lành cho các ngươi, hầu cho xây bỏ các thần hư không kia, mà trở về cùng Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật trong đó.
  32. Công vụ các sứ đồ 14:21
    Khi hai sứ đồ đã rao truyền Tin Lành trong thành đó, và làm cho khá nhiều người trở nên môn đồ, thì trở về thành Lít-trơ, thành Y-cô-ni và thành An-ti-ốt,
  33. Công vụ các sứ đồ 15:7
    Sau một cuộc bàn luận dài rồi, Phi-e-rơ đứng dậy nói cùng chúng rằng: Hỡi anh em, hãy biết rằng từ lúc ban đầu, Đức Chúa Trời đã chọn tôi trong các anh em, để cho người ngoại được nghe Tin Lành bởi miệng tôi và tin theo.
  34. Công vụ các sứ đồ 15:35
    Nhưng Phao-lô và Ba-na-ba ở lại tại thành An-ti-ốt, giảng Tin Lành và dạy đạo Chúa với nhiều người khác.
  35. Công vụ các sứ đồ 16:10
    Phao-lô vừa thấy sự hiện thấy đó rồi, chúng ta liền tìm cách qua xứ Ma-xê-đoan, vì đã định rằng Đức Chúa Trời gọi chúng ta rao truyền Tin Lành ở đó.
  36. Công vụ các sứ đồ 19:23
    Lúc đó, có sự loạn lớn sanh ra vì cớ đạo Tin Lành.
  37. Công vụ các sứ đồ 20:24
    nhưng tôi chẳng kể sự sống mình là quí, miễn chạy cho xong việc dua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để mà làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời.
  38. Công vụ các sứ đồ 21:8
    Ngày mai, chúng ta ở nơi đó đi, đến thành Sê-sa-rê; vào nhà Phi-líp, là người giảng Tin Lành, một trong bảy thầy phó tế, rồi ở lại đó.
  39. Rô-ma 1:1
    Phao-lô, tôi tớ Đức Chúa Trời, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời,
  40. Rô-ma 1:2
    là Tin Lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh,
  41. Rô-ma 1:9
    Vì Đức Chúa Trời mà tôi lấy tâm thần hầu việc, bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi nhắc đến anh em không thôi
  42. Rô-ma 1:15
    Ấy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin Lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma.
  43. Rô-ma 1:16
    Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc;
  44. Rô-ma 1:17
    vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.
  45. Rô-ma 2:16
    Ấy là điều sẽ hiện ra trong ngày Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người, y theo Tin Lành tôi.
  46. Rô-ma 10:15
    Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? như có chép rằng: Những bàn chơn kẻ rao truyền tin Lành là tốt đẹp biết bao!
  47. Rô-ma 10:16
    Nhưng chẳng phải mọi người đều nghe theo tin lành đâu; vì Ê-sai có nói rằng: Lạy Chúa, ai tin lời chúng tôi rao giảng?
  48. Rô-ma 11:28
    Nếu luận về Tin Lành thì họ là nghịch thù bởi cớ anh em, còn luận về sự lựa chọn, thì họ được yêu thương bởi cớ các tổ phụ;
  49. Rô-ma 15:16
    nên chức việc của Đức Chúa Jêsus Christ giữa dân ngoại, làm chức tế lễ của Tin Lành Đức Chúa Trời, hầu cho dân ngoại được làm của lễ vừa ý Chúa, nên thánh bởi Đức Thánh Linh.
  50. Rô-ma 15:19
    bởi quyền phép của dấu kỳ phép lạ, bằng quyền phép của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Ấy là từ thành Giê-ru-sa-lem và các miền xung quanh cho đến xứ I-ly-ri, tôi đã đem đạo Tin Lành của Đấng Christ đi khắp chốn.
  51. Rô-ma 15:20
    Nhưng tôi lấy làm vinh mà rao Tin Lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra, để cho khỏi lập lên trên nền người khác,
  52. Rô-ma 16:25
    Ngợi khen Đấng có quyền làm cho vững chí anh em theo Tin Lành của tôi và lời giảng Đức Chúa Jêsus Christ, theo sự tỏ ra về lẽ mầu nhiệm, là lẽ đã giấu kín từ mọi đời trước,
  53. I Cô-rinh-tô 1:17
    Thật vậy, Đấng Christ đã sai tôi, chẳng phải để làm phép báp-tem đâu, nhưng để rao giảng Tin Lành, và chẳng dùng sự khôn khéo mà giảng, kẻo thập tự giá của Đấng Christ ra vô ích.
  54. I Cô-rinh-tô 4:15
    Bởi chưng, dẫu anh em có một vạn thầy giáo trong Đấng Christ, nhưng chẳng có nhiều cha; vì tôi đã dùng Tin Lành mà sanh anh em ra trong Đức Chúa Jêsus Christ.
  55. I Cô-rinh-tô 9:12
    Người khác còn có quyền ấy trên anh em, huống chi là chúng tôi? Dầu vậy, chúng tôi chẳng từng dùng quyền ấy; nhưng chúng tôi chịu mọi sự, hầu cho khỏi làm ngăn trở Tin Lành của Đấng Christ chút nào.
  56. I Cô-rinh-tô 9:14
    Cũng vậy, Chúa có truyền rằng ai rao giảng Tin Lành thì được nuôi mình bởi Tin Lành.
  57. I Cô-rinh-tô 9:16
    Ví bằng tôi rao truyền Tin Lành, tôi chẳng có cớ khoe mình, vì có lẽ cần buộc tôi; còn không rao truyền Tin Lành, thì khốn khó cho tôi thay.
  58. I Cô-rinh-tô 9:18
    Thế thì phần thưởng của tôi là gì? Ấy là khi giảng Tin Lành, thì giảng nhưng không, chẳng dùng quyền tôi có như người giảng Tin Lành.
  59. I Cô-rinh-tô 9:23
    Mọi điều tôi làm, thì làm vì cớ Tin Lành, hầu cho tôi cũng có phần trong đó.
  60. I Cô-rinh-tô 15:1
    Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin Lành mà tôi đã rao giảng và anh em đã nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy,
  61. II Cô-rinh-tô 2:12
    Lại khi tôi đã đến thành Trô-ách đặng giảng Tin Lành của Đấng Christ, dầu Chúa đã mở cửa cho tôi ở đó,
  62. II Cô-rinh-tô 4:3
    Nếu Tin Lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất,
  63. II Cô-rinh-tô 4:4
    cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời.
  64. II Cô-rinh-tô 8:18
    Chúng tôi có sai một người anh em cùng đi, là người có tiếng khen đồn khắp trong các Hội thánh, tại những điều người đã làm vì đạo Tin Lành.
  65. II Cô-rinh-tô 9:13
    Bởi việc đó họ đã biết lòng rộng rãi của anh em, thì ngợi khen Đức Chúa Trời vì anh em từng vâng phục trong sự làm chứng về đạo Tin Lành của Đấng Christ, và vì cớ lòng rộng rãi về sự bố thí của anh em đối với họ cùng với mọi người.
  66. II Cô-rinh-tô 10:14
    Bởi chưng chúng tôi chẳng vượt quá mực mình, như thể chúng tôi không đến cùng anh em, vì thật chúng tôi đã đem Tin Lành của Đấng Christ mà đến nơi anh em trước hết.
  67. II Cô-rinh-tô 10:16
    cho đến nỗi chúng tôi sẽ có thể truyền Tin Lành ra đến các xứ xa hơn xứ anh em, song chúng tôi không hề khoe mình về việc đã làm trong địa phận của người khác.
  68. II Cô-rinh-tô 11:4
    Vì nếu có người đến giảng cho anh em một Jêsus khác với Jêsus chúng tôi đã giảng, hoặc anh em nhận một Thánh Linh khác với Thánh Linh anh em đã nhận, hoặc được một Tin Lành khác với Tin Lành anh em đã được, thì anh em chắc dung chịu!
  69. II Cô-rinh-tô 11:7
    Tôi đã rao giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời cho anh em một cách nhưng không, hạ mình xuống cho anh em được cao lên, vậy thì tôi có phạm lỗi gì chăng?
  70. Ga-la-ti 1:6
    Tôi lấy làm lạ cho anh em đã vội bỏ Đấng gọi anh em bởi ơn Đức Chúa Jêsus Christ, đặng theo tin lành khác.
  71. Ga-la-ti 1:7
    Thật chẳng phải có tin lành khác, nhưng có mấy kẻ làm rối trí anh em, và muốn đánh đổ Tin Lành của Đấng Christ.
  72. Ga-la-ti 1:8
    Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời, truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin Lành đã truyền cho anh em, thì người ấy đáng bị a-na-them!
  73. Ga-la-ti 1:9
    Tôi đã nói rồi, nay lại nói lần nữa: Nếu ai truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin Lành anh em đã nhận, thì người ấy đáng bị a-na-them!
  74. Ga-la-ti 1:11
    Hỡi anh em, tôi nói cho anh em rằng, Tin Lành mà tôi đã truyền, chẳng phải đến từ loài người đâu;
  75. Ga-la-ti 1:12
    vì tôi không nhận và cũng không học Tin Lành đó với một người nào, nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Jêsus Christ.
  76. Ga-la-ti 2:2
    Tôi vâng theo lời tỏ ra mà lên đó, phô bày Tin Lành mà tôi đã giảng trong người ngoại đạo ra cho anh em; lại phô bày riêng cho những kẻ có danh vọng hơn hết, kẻo sự chạy của tôi trước kia và bây giờ hóa ra vô ích chăng.
  77. Ga-la-ti 2:5
    Chúng tôi không nhường họ một giây phút nào, chối chẳng chịu thuộc dưới quyền họ, hầu cho lẽ thật của Tin Lành được vững bền trong anh em.
  78. Ga-la-ti 2:7
    Trái lại, họ thấy sự giảng Tin Lành cho kẻ không chịu phép cắt bì đã giao cho tôi, cũng như sự giảng Tin Lành cho người chịu phép cắt bì đã giao cho Phi-e-rơ vậy,
  79. Ga-la-ti 2:14
    Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa?
  80. Ga-la-ti 3:8
    Kinh Thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước.
  81. Ga-la-ti 4:13
    Anh em biết rằng ấy là đương lúc xác thịt yếu đuối mà tôi truyền Tin Lành cho anh em lần thứ nhứt,
  82. Ê-phê-sô 1:13
    Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chơn thật, là đạo Tin Lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa,
  83. Ê-phê-sô 3:6
    Lẽ mầu nhiệm đó tức là: Dân ngoại là kẻ đồng kế tự, là các chi của đồng một thể, đều có phần chung với chúng ta về lời hứa đã nhờ Tin Lành mà lập trong Đức Chúa Jêsus Christ;
  84. Ê-phê-sô 3:7
    còn tôi đã trở nên kẻ giúp việc Tin Lành ấy cứ sự ban cho của ân điển Đức Chúa Trời, là ân điển đã ban cho tôi bởi công hiệu của quyền phép Ngài.
  85. Ê-phê-sô 4:11
    Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư,
  86. Ê-phê-sô 6:15
    dùng sự sẵn sàng của Tin Lành bình an mà làm giày dép.
  87. Ê-phê-sô 6:19
    Cũng hãy vì tôi mà cầu nguyện, để khi tôi mở miệng ra, Chúa ban cho tôi tự do mọi bề, bày tỏ lẽ mầu nhiệm của đạo Tin Lành,
  88. Phi-líp 1:5
    vì cớ từ buổi ban đầu cho đến bây giờ, anh em đã được thông công trong sự tấn tới của đạo Tin Lành;
  89. Phi-líp 1:7
    Tôi nghĩ đến hết thảy anh em dường ấy, là phải lắm; vì anh em ở trong lòng tôi, dầu trong vòng xiềng xích tôi, hoặc trong khi binh vực và làm chứng đạo Tin Lành, thì anh em cũng có dự phần ân điển đã ban cho tôi.
  90. Phi-líp 1:12
    Hỡi anh em, tôi muốn anh em biết rằng điều xảy đến cho tôi đã giúp thêm sự tấn tới cho đạo Tin Lành,
  91. Phi-líp 1:16
    Những người nầy làm bởi lòng yêu mến, biết rằng: tôi được lập nên để binh vực đạo Tin Lành.
  92. Phi-líp 1:27
    Duy anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với đạo Tin Lành của Đấng Christ, để hoặc khi đến thăm anh em, hoặc khi vắng mặt, tôi cũng biết rằng anh em một lòng đứng vững, đồng tâm chống cự vì đức tin của đạo Tin Lành, phàm sự chẳng để cho kẻ thù nghịch ngăm dọa mình;
  93. Phi-líp 2:22
    Nhưng anh em đã biết sự trung tín từng trải của người; và biết người là trung thành với tôi về việc Tin Lành, như con ở với cha vậy.
  94. Phi-líp 4:3
    Hỡi kẻ đồng liêu trung tín, tôi cũng xin anh giúp hai người đờn bà ấy, nhơn bai bà ấy cùng tôi đã vì đạo Tin Lành mà chiến đấu; Cơ-lê-măn và các bạn khác đồng làm việc với tôi cũng vậy, có tên những người đó biên vào sách sự sống rồi.
  95. Phi-líp 4:15
    Hỡi người Phi-líp, anh em cũng biết rằng lúc tôi khởi giảng Tin Lành trong khi lìa xứ Ma-xê-đoan, thi ngoài hội thánh của anh em, chẳng có hội nào khác hiệp với tôi để lập thành sự trao đổi trong chúng ta cả;
  96. Cô-lô-se 1:5
    vì cớ sự trông cậy để dành cho anh em ở trên trời là sự trước kia anh em đã nhờ đạo Tin Lành chân thật mà biết đến.
  97. Cô-lô-se 1:6
    Đạo Tin Lành đó ở giữa anh em cũng như ở trong cả thế gian; lại kết quả và tấn bộ cũng như trong anh em, từ ngày mà anh em đã nghe rao truyền ơn Đức Chúa Trời và đã học cho thật biết ơn đó,
  98. Cô-lô-se 1:23
    miễn là anh em tin Chúa cách vững vàng không núng, chẳng hề dời khỏi sự trông cậy đã truyền ra bởi đạo Tin Lành mà anh em đã nghe, là đạo được giảng ra giữa mọi vật dựng nên ở dưới trời, và chính tôi, Phao-lô, là kẻ giúp việc của đạo ấy.
  99. I Tê-sa-lô-ni-ca 1:5
    Vả, đạo Tin Lành chúng tôi đã rao truyền cho anh em, không những bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền phép, Đức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết nữa. Vì anh em biết rõ cách chúng tôi ở giữa anh em và lòng yêu thương đối với anh em là thể nào.
  100. I Tê-sa-lô-ni-ca 2:2
    nhưng sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Phi-líp, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Đức Chúa Trời, cứ rao truyền đạo Tin Lành của Đức Chúa Trời cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến.
  101. I Tê-sa-lô-ni-ca 2:4
    Nhưng vì Đức Chúa Trời đã xét chúng tôi là xứng đáng giao cho việc giảng Tin Lành, nên chúng tôi cứ nói, không phải để đẹp lòng loài người, nhưng để đẹp lòng Đức Chúa Trời, là Đấng dò xét lòng chúng tôi.
  102. I Tê-sa-lô-ni-ca 2:8
    Vậy, vì lòng rất yêu thương của chúng tôi đối với anh em, nên ước ao ban cho anh em, không những Tin Lành Đức Chúa Trời thôi đâu, song cả đến chính sự sống chúng tôi nữa, bởi anh em đã trở nên thiết nghĩa với chúng tôi là bao.
  103. I Tê-sa-lô-ni-ca 2:9
    Hỡi anh em, anh em còn nhớ công lao, khó nhọc của chúng tôi; ấy là trong khi chúng tôi giảng Tin Lành cho anh em, lại cũng làm việc cả ngày lẫn đêm, để cho khỏi lụy đến một người nào trong anh em hết.
  104. I Tê-sa-lô-ni-ca 3:2
    và sai Ti-mô-thê, là anh em chúng tôi, tôi tớ của Đức Chúa Trời, kẻ giúp việc đạo Tin Lành của Đấng Christ, đến cùng anh em, để khiến anh em được vững vàng và giục lòng anh em trong đức tin,
  105. II Tê-sa-lô-ni-ca 1:8
    báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.
  106. II Tê-sa-lô-ni-ca 2:14
    Ay cũng là vì đó mà Ngài đã dùng Tin Lành chúng tôi gọi anh em, đặng anh em hưởng được sự vinh hiển của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.
  107. I Ti-mô-thê 1:11
    Ấy đó là điều đạo Tin Lành vinh hiển của Đức Chúa Trời hạnh phước dạy dỗ, mà sự truyền đạo đó đã giao phó cho ta.
  108. II Ti-mô-thê 1:8
    Vậy con chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đứng lấy sự ta vì Ngài ở tù làm xấu hổ; nhưng hãy cậy quyền phép Đức Chúa Trời mà chịu khổ với Tin Lành.
  109. II Ti-mô-thê 1:10
    mà bây giờ mới bày ra bởi sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa chúng ta, Ngài đã hủy phá sự chết, dùng Tin Lành phô bày sự sống và sự không hề chết ra cho rõ ràng.
  110. II Ti-mô-thê 1:11
    Ấy là vì Tin Lành đó mà ta đã được lập làm người giảng đạo, sứ đồ và giáo sư,
  111. II Ti-mô-thê 2:8
    Hãy nhớ rằng Đức Chúa Jêsus Christ, sanh ra bởi dòng vua Đa-vít, đã từ kẻ chết sống lại, theo như Tin Lành của ta,
  112. II Ti-mô-thê 2:9
    vì Tin Lành đó mà ta chịu khổ, rất đỗi bị trói như người phạm tội; nhưng đạo của Đức Chúa Trời không hề bị trói đâu.
  113. II Ti-mô-thê 4:5
    Nhưng con, phải có tiết độ trong mọi sự, hãy chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ.
  114. II Ti-mô-thê 4:17
    Nhưng Chúa đã giúp đỡ ta và thêm sức cho ta, hầu cho Tin Lành bởi ta được rao truyền đầy dẫy, để hết thảy dân ngoại đều nghe; ta lại đã được cứu khỏi hàm sư tử.
  115. Phi-lê-môn 1:13
    Tôi vốn muốn cầm người ở lại cùng tôi, đặng thế cho anh mà giúp việc tôi trong cơn vì Tin Lành chịu xiềng xích.
  116. Hê-bơ-rơ 4:2
    Vì tin Lành nầy đã rao truyền cho chúng ta cũng như cho họ; những lời họ đã nghe không ích chi hết, vì trong khi nghe, chẳng lấy đức tin nhận lời đó thuộc về mình.
  117. Hê-bơ-rơ 4:6
    Như vậy, vì đã dành cho mấy người phải vào đó, và vì những kẻ nghe Tin Lành ấy trước nhứt đã không vào đó bởi chẳng tin,
  118. Hê-bơ-rơ 6:1
    Ấy vậy, chúng ta phải bỏ qua các điều sơ học về Tin Lành của Đấng Christ, mà tấn tới sự trọn lành, chớ nên lập lại nền nữa, tức là: từ bỏ các việc chết, tin Đức Chúa Trời,
  119. I Phi-e-rơ 1:12
    Các đấng ấy đã được tỏ cho rằng chẳng phải vì mình, bèn là vì anh em mà truyền ra những điều đó, là những điều hiện nay đã rao cho anh em, bởi những người nhờ Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống, mà giảng Tin Lành cho anh em; các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó.
  120. I Phi-e-rơ 1:25
    Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin Lành đã giảng ra cho anh em.
  121. I Phi-e-rơ 4:6
    Vì ấy bởi điều đó mà Tin Lành cũng đã giảng ra cho kẻ chết, hầu cho sau khi chịu xét đoán theo loài người về phần xác, thì họ được sống theo Đức Chúa Trời về phần hồn.
  122. I Phi-e-rơ 4:17
    Vì thời kỳ đã đến, là khi sự phán xét sẽ khởi từ nhà Đức Chúa Trời; vả, nếu khởi từ chúng ta, thì sự cuối cùng của những kẻ chẳng vâng theo Tin Lành Đức Chúa Trời sẽ ra thế nào?
  123. Khải huyền 14:6
    Điều ấy đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc.

Về việc giáo hoàng tuyệt thông Luther thì lịch sử ghi lại như sau: Giáo Hoàng Leo dọa tuyệt thông Luther nếu Luther không rút lại những lời ông lên án Công Giáo. Luther công khai đốt bỏ lời hăm dọa của Leo như là hành động ông tuyệt thông với Công Giáo. Vì vậy, Leo mới tuyệt thông Luther. Như vậy, ai tuyệt thông ai trước? Xem phần trích dẫn dưới đây (http://en.wikipedia.org/wiki/Martin_Luther):

On June 15, 1520, the Pope warned Luther with the papal bull (edict) Exsurge Domine that he risked excommunication unless he recanted 41 sentences drawn from his writings, including the 95 Theses, within 60 days.

That autumn, Johann Eck proclaimed the bull in Meissen and other towns. Karl von Miltitz, a papal nuncio, attempted to broker a solution, but Luther, who had sent the Pope a copy of On the Freedom of a Christian in October, publicly set fire to the bull and decretals at Wittenberg on December 10, 1520,[47] an act he defended in Why the Pope and his Recent Book are Burned and Assertions Concerning All Articles.

As a consequence, Luther was excommunicated by Leo X on January 3, 1521, in the bull Decet Romanum Pontificem.